Tôi về lại làng vào đầu mùa hạ. Mùa hạ quê tôi lúc nào cũng ngập ngụa trong mớ rơm rạ và dúi chín vàng. Tôi mang theo túi hành lý cỏn con, định bụng sẽ không bao giờ quay lại thành thị nữa. Tôi bỏ trò, bỏ trường, bỏ hết để trốn về đây mà không thèm ngoái đầu lại chỉ một lần. Anh giáo chốn thị thành về làng có khác, ai nấy đều tròn mắt. Để mặc những ánh tò mò sau lưng, tôi băng con đường ruộng chưa bao giờ bằng phẳng, ráng bám lên từng thớ bờ chậm rãi tiến về ngôi nhà nằm chênh vênh bên kia cánh đồng con con.
Những ngày đầu tiên từ Sài Gòn trở về, tôi ở lỳ trong nhà. Má tôi rầy hoài, nói về đến nhà mà co đầu rút cổ, không ló được cái bản mặt ra ngoài cho chòm xóm hỏi han. Tôi ưỡn người ngái ngủ, xách chiếc võng tre cũ kĩ ra sau hè, đặt dưới gốc xoài chi chít trái, trèo lên đánh một giấc. Gió từ ngoài đồng thổi vào êm ru, khẽ luồn tay đưa võng kẽo kè kẽo kẹt, đều đều như âm thanh của con lắc thôi miên cứ trôi qua trôi lại níu chìm mí mắt. Tôi mơ về những buổi lên lớp thấy học trò ngồi chắp tay lên bàn cười rạng rỡ. Ông giáo tôi lật từng trang sách giày cộm vì cũ, đọc ê a những câu những chữ, ngắm học trò dưới lớp mở tròn mắt thơ ngây.
Tôi lội con đường ruộng phía sau hè, đi về gò đất trống nằm khuất sau đám mía vừa chớm lá. Hồi còn bé, tôi hay dành cả ngày trên gò đất này chỉ để nằm dài dưới gốc bồ đề đọc sách. Những cuốn sách ngày đó của tôi là những mảnh lượm lặt nửa còn nửa mất, chắc từ bận ấy, cuộc đời tôi mới chênh chao như thế. Tôi nằm cả ngày dưới cây bồ đề lắng nghe lá mía va vào nhau xào xạc, nắng rớt long tong trên mí mắt, gió xoa vào lòng bàn chân mát rượi. Gò đất bây giờ vẫn vậy, nhưng cây bồ đề bỗng nhỏ hơn nhiều so với kí ức của tôi, rễ mọc ngang dọc nhìn như bộ râu bạc phết của ông già còm cõi nào đó sắp lìa khỏi cuộc đời này. Tôi gối đầu lên bộ râu chằng chịt đó, luồn tay rút trong túi quần cuốn Quy luật của muôn đời của Nođar Đumbatzê, lật đến đoạn đang đánh dấu, thả hồn vào cuốn sách như ngày xưa lơ xưa lắc. Rồi tôi thiếp đi, thiếp đi khi vừa đọc xong đoạn Batsana đau đầu vì con khỉ gian manh giả làm nhà văn mà không ai nhận ra, tôi nghe bước chân của những chú chim nhảy lóc chóc từ cành cây này sang cành cây nọ, tiếng bò nhà ai thả đồng rống lên từng hồi uể oải, tiếng những trang giấy bị gió đẩy va vào nhau soàn soạt và cả tiếng tôi ngáy nhè nhẹ dưới bóng mát hiền lành. Nhưng thật kì lạ, có một thứ tiếng tôi không sao nghe được trong cơn ngủ của mình, mà phải đến khi thức dậy, tôi mới giật mình. Đó là tiếng bước chân của một cậu bé, một cậu bé đến từ đâu đó ngoài cánh đồng, băng qua đám mía còn chưa mọc mắc, đến bãi gò trống hoang dại sâu hút và ngồi nhìn tôi ngủ say sưa. Khi tôi còn đang ngái ngủ, cậu bé nhoẻn miệng cười, nụ cười rực lửa như nắng hạ, kéo tôi về với thực tại. Tôi ngồi dậy, thấy mặt trời đang lặn dần xuống phía sau đứa trẻ, tựa hồ như có một vầng sáng kì lạ toát ra từ em vậy. Cậu bé chớp mắt nhìn tôi hỏi:
- Thầy là con bác Bốn Ròm hở thầy?
Tôi nhìn cậu bé, phát hiện khuôn mặt này quen quá, quen đến nỗi tôi nghĩ mình đã từng gặp và nói chuyện. Nhưng nghĩ lại hơn mười năm qua tôi lăn lộn ở thành phố, về quê cũng được có dăm ba bữa lẩn quẩn trong căn nhà cách biệt của má con tôi thì lấy ai gặp gỡ chuyện trò chốn này. Tôi ừ nhẹ, cậu bé càng cười tươi hơn.
- Em tên Ri, ở xóm trong lận! Nhưng em thích cái gò này lắm, em cũng hay ra đây nằm đọc sách như thầy vậy đó!
Ri càng nói chuyện tôi lại càng thấy thân quen, như hồ có cái gì đó vừa lãng đãng trong tâm trí tôi... rồi lại biến mất. Tôi cố lục lại hàng đống gương mặt đã nhàu nát đã từng đi qua đời tôi, nhưng không tìm thấy ai giống Ri cả, hình như tôi biết em, đó cũng chỉ là ý nghĩ thoáng qua mà thôi.
- Bữa sau em ra đây nữa được không thầy?
- Gò đất này đâu phải của riêng tôi, em cứ tự nhiên, tôi không ra thường xuyên lắm, thỉnh thoảng chắc ta cũng gặp nhau!
Từ đó Ri hay đến sau giấc ngủ của tôi. Lúc nào mở mắt ra tôi cũng bắt gặp khuôn mặt Ri, khuôn mặt như đang đắm chìm trong một giấc mộng đêm hè. Em hay kể cho tôi nghe những câu chuyện không đầu không đuôi, những chiều em nằm dài trên bờ đê ngắm mặt trời lặn, những lỗ cun cút chi chít dưới cây xoài mà em không nỡ thổi hay những cuốn sách nào đó em vừa lật đến trang đầu tiên. Tôi nghe em kể, nhìn khuôn mặt sáng rỡ của em, tự nhiên thấy buồn man mác. Tôi không hiểu vì sao tôi buồn, chắc vì những kỉ niệm em kể sao cứ vừa vặn với những trăn trở trong lòng tôi, hay vì đôi mắt em không giấu nổi điều gì đó hoang hoải chảy dài trong chiều tím ngắt.
- Thầy dạy em học được không thầy?
Tôi nhìn vẻ mặt mong đợi của Ri, nhớ lại những gương mặt trẻ thơ từng ôm tôi khóc nấc rồi ức ưởi hỏi tương tự. Lòng tôi không kiềm được mong muốn ôm lấy Ri. Tôi gật đầu nhẹ tênh rồi quay lưng đi về phía đồng mía, khóe mắt chảy dài. Hoàng hôn sụp xuống nhè nhẹ, nuốt chửng cả bóng Ri đang ngơ ngác giữa gò.
Vào những đêm trăng mờ ảo, hai má con tôi hay nằm ngửa chiếc chõng tre ngoài sân. Ánh trăng vuốt ve khuôn mặt, chảy dài trong tay mà không sao bắt được. Má hỏi tôi khi nào trở lại thành phố, tôi không buồn trả lời, lặng lẽ nhắm mắt lại vờ ngủ. Má chậc lưỡi:
- Ở lại đây không dạy dỗ gì được đâu con ạ! Nhà mình nghèo lắm...
Tôi khép chặt mắt hơn chút nữa, sợ cái chậc lưỡi của má xộc lên mũi, xộc vào trái tim tôi vốn chưa từng yên ổn.
Dạo này tôi dạy Ri cách đọc sách, Ri bảo sao có nhiều cuốn đọc khó hiểu quá trời, đọc tới cả chục lần mà vẫn không hiểu nổi.
- Tôi chỉ dạy em cách đọc để nhớ thôi, còn hiểu thì để thời gian dạy!
Tôi mang những cuốn sách hay mang về từ phố thị cho Ri đọc, kể cả cuốn Quy luật của muôn đời mà tôi thích nhất. Đọc đến đoạn bác thợ giày Bulika – một người bệnh nằm cùng phòng với Batsana- nói rằng ông có thể biết được con người ta qua cách nhìn đôi giày của họ, Ri liền hỏi tôi:
- Thầy có tin vào cách nhìn của Bulika không thầy?
Tôi không trả lời Ri, chỉ nhoẻn miệng cười trừ. Một gã thầy giáo như tôi, luôn đi một đôi giày giả dối thì làm sao Bulika nhìn ra được. Có chăng bác ta cũng chỉ nhìn được cái mặt giả dối của tôi mà thôi.
Lần đầu tiên tôi đến ngôi trường nằm nghênh ngang trên con đường đông đúc đó, tôi chỉ mang một đôi giày xăng đan đơn giản. Lúc đó tôi không hề biết rằng, khi đã bước vào trong cánh cửa, gã tôi phải sống một quãng đời thương tâm như thế. Tôi lột đôi xăng đan cất vào gầm giường, mang vào đôi giày tay bóng lộn. Rồi chẳng biết từ lúc nào, đôi giày tây bóng nhoáng ấy cứ ôm lấy chân tôi chẳng chịu rời, như một bóng ma quái quỷ ác nhơn nào đó thèm rút hơi người từng li từng tí.
- Những lúc không ở đây thì em làm gì? - Tôi hỏi Ri.
Ri nhe hàm răng trắng sáng cười toét, đôi mắt lấp lánh.
- Thầy biết gì không? Đây là lần đầu tiên thầy bắt chuyện trước với em đó nha!
Tôi cười khan, rồi chẳng biết làm gì vì ngượng nên tôi quay mặt nhìn ra cánh đồng mênh mông.
- Em hay lên trường ngồi chơi. Nghỉ hè nên trường vắng, muốn vào phòng nào cũng được thầy ạ!
- Em không được đi học sao?
Tôi nhẹ nhàng hỏi, nhẹ nhàng nhìn Ri như muốn an ủi em. Mặt Ri hơi chùng xuống, nhưng em vẫn trả lời rất rành mạch.
- Dạ!
Rồi thôi, Ri không nói vì sao, tôi cũng không hỏi. Cuộc đời là một chuỗi câu hỏi, tôi không dám lật từng ô lên để giải đố, tôi sợ lòng tôi thêm bùng bão, và sợ chạm vào nỗi niềm riêng của Ri.
Một hôm khác Ri mang cho tôi một chùm hoa phượng đỏ rực. Em bảo em hái ở sân trường, phải co giò chạy té khói vì suýt bị bác bảo vệ bắt được. Tôi nhìn từng cánh phượng còn mọng nước, chợt nhớ ngôi trường tôi từng dạy ở thành thị chẳng có cây phượng nào, chỉ toàn song sắt và những khuôn mặt xám xịt.
Tôi mang chùm phượng về nhà đặt lên cửa sổ, má nhìn tôi bằng ánh mắt ngơ ngác, chắc má thấy sắc phượng chói quá với một kẻ suốt ngày ủ dột như tôi chăng?
Tối đó tôi nằm mơ. Một giấc mơ đã từng lặp lại suốt bao nhiêu lần. Tôi thấy đoàn lân rộn ràng đèn sắc, tiếng trống vang lên hừng hực. Những cậu bé mặc bộ đồ màu vàng rồng, có vẩy dưới chân nhún nhảy nhịp nhàng theo trống. Mọi người xúm xít nhau vây lấy đoàn lân, khuôn mặt ai cũng ngời ngời mừng rỡ. Và tôi cũng ở trong đám người ấy, cũng vây lấy đoàn lân, cũng bị dòng người trên vỉa hè đưa đẩy như hội. Chợt tôi quay người lại, đằng sau song sắt của một tòa nhà cao ngất, là những đôi mắt xám đang biến thành tro nguội. Những đôi mắt nhìn tôi như cầu cứu, rồi những cái miệng bắt đầu mở ra và đồng thanh hét lên một thứ âm thanh kinh dị. Tôi vùng dậy, mồ hôi ướt trán, thấy mắt mình ướt nhòe lúc nào chẳng hay.
- Nghỉ hè xong thầy lại vào thành phố hả thầy? – Ri hỏi, tay mân mê trang sách tôi vừa đem tới.
- Tôi không vào nữa!
Ri nhìn tôi một hồi lâu, đôi mắt em tự nhiên trong suốt. Em không hỏi tôi vì sao, nhưng lòng tôi tự nhiên bị đôi mắt em mở khóa. Tôi mông lung không biết kể với em như thế nào, để dịu nỗi đau trong tôi và để không làm em hụt hẫng.
- Ngôi trường đó chẳng có gì giống trường cả. Chỉ có học sinh, còn những kẻ khác đều là quỷ dữ. Học sinh bị cầm tù và tôi cũng vậy. Tôi trở về vì tôi dần nhận ra rằng, nếu sống thêm một ngày ở đó, tôi cũng trở thành quỷ dữ mà thôi.
Bỗng nhiên vai Ri chùng xuống. Em cuối gầm mặt, tay vẫn tiếp tục mân mê những trang sách.
- Thầy bỏ học sinh lại cho quỷ dữ sao?
Lòng tôi buốt nhưng lặng lẽ. Tôi không dám nhìn vào mắt Ri, em cũng vậy. Em đột nhiên đứng dậy chào tôi rồi lững thững băng qua đám mía non. Bóng em khuất dần, tôi thèm được òa khóc, nhưng lại thôi. Chắc Ri không biết tôi đã bật khóc biết bao nhiêu lần khi nhìn thấy ánh mắt của đám học sinh hướng ra song sắt một cách thèm thuồng, khi đang ở cái tuổi ăn tuổi chơi mà chúng ngày ngày cắm đầu vào học những con chữ khô khan với chiếc roi bỏ ngõ trên bàn, khi những bức thư hộc bàn bị những người mang danh thầy cô xé tan xé vụn. Chắc họ không biết rằng mình đang xé nát nhiều thứ hơn bức thư ấy, xé nát một quảng đời tuổi trẻ của những con người vô tội.
Có lần vì thương các em, tôi dạy các em làm lưu bút. Những quyển lưu bút đầy màu sắc ra đời, những bài thơ, những câu nói ngộ nghĩnh, những lời tỏ tình khờ dại, những dòng trăn trở về ngôi trường như rào cản với cuộc đời này, những lời gọi thầy ơi, thầy ở đây với tụi em mãi nha thầy... Nhưng chẳng bao lâu, lưu bút bị tịch thu rồi vò nát, học sinh ôm nhau khóc rưng rức, tôi bị gọi lên phòng hiệu trưởng cảnh cáo, mọi chuyện tan hoang.
Sau lần đó, Ri chẳng ra gò đất nữa. Tôi biết Ri giận tôi, giận gã làm thầy như tôi hèn nhát, giận cuộc đời sao nỡ chua ngoa với những bông hoa vừa chớm. Tôi hỏi má chùm phượng tôi đặt trên cửa sổ đâu rồi, má nhìn tôi ngơ ngác hỏi chùm phượng nào, bữa giờ má có thầy hoa hòe gì ở nhà đâu.
Tôi lò mò qua bờ ruộng vào xóm trong, tôi đến ngôi trường làng mà Ri thường chơi đùa, nhìn quanh quất tìm kiếm. Dưới gốc phượng có vài ba đứa trẻ đang chơi ô ăn quan, tôi tiến lại gần.
- Các em có thấy anh Ri ở đây không?
Bọn trẻ ngước lên nhìn tôi lắc đầu.
- Dạ không! Làng này đâu có ai tên Ri!
Tự nhiên gai sống nổi hết lên lưng tôi. Tôi nhìn vội vào các phòng học, thấy phòng nào cửa cũng đóng kín. Tôi chạy vội đi tìm hỏi má về Ri, một cậu bé trạc mười lăm mười sáu ở xóm trong. Má nhìn tôi chăm chú, đôi mắt ngập ngụa trong bóng tối.
- Mấy đứa nhỏ không biết là phải rồi! Tại thằng Ri nó chết trẻ quá!
Tôi nuốt nước bọt, cố lắng tai nghe lời má nói, nhưng sao tai tôi cứ lùng bùng. Tiếng được tiếng mất. Tôi ngồi thụp xuống chiếc chõng tre, thấy đời vừa chênh đi một nhịp.
Má kể hồi đó Ri thích học ở trường làng, nhưng ba mẹ Ri cứ nhất quyết đưa Ri lên thành phố học. Ri khóc lóc xin ở lại, bảo rằng học ở đây có bạn có bè, có ba có mẹ con quen rồi. Nhưng ba mẹ Ri như bị nhập, nhất quyết đưa Ri đi. Trước vài ngày, Ri bỏ sang kho trấu của nhà máy gạo trốn. Ba mẹ Ri cuống cuồng đi tìm, cuối cùng cũng lôi được Ri về. Sợ Rilại bỏ trốn, hai người mua dây thừng trói chân Ri vào chân giường rồi khóa trái cửa nhà. Ri khóc inh ỏi, hàng xóm hai bên chỉ biết quẹt nước mắt mà thương.
Ri lên thành phố, vào học một ngôi trường tư thục. Học sinh ở luôn trong trường, một tháng mới cho về một lần. Ba mẹ Ri đi đâu cũng tự hào kể lể, bảo học trường đó thách trời nó mới hư được. Ừ thì không hư, nhưng rồi một bữa người ta nói Ri chết rồi, xác Ri về lạnh ngắt, ba mẹ Ri khóc ngất, nghĩa trang nổi gió dữ dội, những ngọn cờ trắng tang tóc vần vũ giữa hoàng hôn. Chẳng ai biết vì sao Ri chết, nhưng tôi biết.
Lần đó, trong giờ học của tôi có các thầy cô đến kiểm tra. Một cô bé học sinh quên làm bài tập. Tôi cho em ngồi xuống và nhắc nhở lần sau nhớ làm bài đầy đủ. Nhưng những người mang danh thầy cô kia bỗng dưng nhảy dựng lên, cầm chiếc roi trao vào tay tôi, thầm thì bảo phải phạt thì tụi nó mới sợ, không lần sau sẽ trơ mặt ra. Tôi nhỏ nhẹ lắc đầu, bảo các em lớn rồi, không nên dùng roi vọt, nếu dùng thành ý thì các em sẽ nghe lời thôi. Vậy mà gã quỷ dữ đó gọi phắt cô bé nữ sinh đang diện bộ áo dài trắng thướt tha ấy đứng dậy. Em nhìn tôi van nài, tôi cố giằng chiếc roi từ trên tay gã những bị những người khác khóa chặt tay. Em uất ức nằm úp lên chiếc bàn dài, đôi mắt ráo hoảnh nhìn tôi.
- Đừng! Đừng mà!
Gã quỷ dữ vụt roi lên người em, tà áo dài nhàu nát. Học sinh ngồi lặng lẽ, hoang mang, có vài tiếng thút thít, tiếng tôi cố giằng ra khỏi hai gọng kìm chặt cứng và tiếng roi quất lên người em gái bé nhỏ.
Hôm sau tôi nghe nói cô bé đó chết rồi, em treo cổ trong nhà tắm, trên người vẫn còn mặc nguyên bộ áo dài bị đòn roi làm cho nhàu nát. Em chết ở cái tuổi mười sáu, tuổi đẹp nhất đời người. Tôi nhớ ánh mắt ráo hoảnh của em nhìn tôi, như giận dỗi, như bất cần, như buông xuôi. Có lẽ Ri cũng vậy, Ri cũng buông xuôi, cũng chênh chao một mình mà nào có ai hay.
Tôi mang cuốn Quy luật của muôn đời lên thăm mộ Ri. Ngồi trước mộ em, tôi giở từng trang sách đọc lại mà nước mắt cứ chảy dài. Tôi không hiểu tại sao giữa tôi và Ri lại có mối liên hệ kì lạ như vậy, chỉ là tôi thấy đã gặp Ri ở đâu đó trong cuộc đời này, có lẽ là trong một giấc mơ lạc lối, hay trong lúc tôi loay hoay tìm cái chết cho thằng tôi hèn nhát, tôi đã gặp Ri nơi cửa địa ngục, chúng tôi cũng đã ngồi xuống bên nhau, nói cho nhau những niềm trăn trở và bởi sợ tôi không vững vàng trên điểm chới với này mà Ri đã theo tôi trở lại nơi này?
Tôi xách ba lô quay về thành phố, ôm má một cái thật mạnh rồi chậm chạp bấu chân lên bờ ruộng sang bên kia đường. Đứng bên này nhìn sang, thấy bóng má nhạt nhòa trong nắng chiều. Má vẫy tay bảo tôi đi nhanh lên, tôi thèm ôm má thêm cái nữa nhưng rồi dượm chân bước đi. Tôi sẽ trở lại ngôi trường đó, sẽ trở thành một con người thật sự, để những tâm hồn non trẻ không còn gục ngã trước những hụt hẫng, những thất vọng, những chán chường. Dù chỉ là mình tôi, tôi cũng muốn thử. Để mai này trên đường xuống cõi âm, tôi gặp Ri mà không phải hổ thẹn, không phải bắt gặp cái cúi đầu thất vọng của em.
Tôi ngoái đầu lại lần nữa, thấy có bóng người li ti trên gò đất hoang, gió sà vào tóc tôi như cái đập vai của một người con trai, như cái mỉm cười an yên tiễn người ra đi không hề vướng bận.
P.M.T.N (ĐHSP TP. HCM)
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét