Trang Văn Thơ Việt Nam

TA DẠI TA TÌM NƠI VẮNG VẺ (*) - Bút ký Nguyễn Đoan Tuyết

14:30 |



                         





Em nghe chăng mùa thu (**) 

Nơi miền "sơn cốc" vắng

Ly cà phê sóng sánh 

Chờ đón bạn phương xa


       Thế là tôi và một cô bạn nữa đã hẹn nhau tìm về “sơn cốc” của T.L.  một cô bạn ở xứ sở cà phê (chúng tôi đã gọi nơi ở xa cách và vắng vẻ của bạn một cách trìu mến như thế). Chỉ có hiểu nhau như thế nào người ta mới đi thăm nhau mà không ngại tuổi tác và đường xa. Chúng tôi đến nhà T.L. thuộc  huyện Krông Ana, một vùng trọng điểm cà phê của Đắk Lắk, cách thành phố Buôn Mê Thuột gần 30 km vào một buổi chiều nắng nhẹ. Có đến tận nơi này chúng tôi mới thật sự hiểu về cuộc sống của bạn mình ra sao, đúng là “trăm nghe không bằng một thấy”, và lại càng thương bạn nhiều hơn.
          Cả buổi chiều chúng tôi thơ thẩn trên con đường cà phê xanh ngát, trĩu quả, nhìn ngút mắt cũng chỉ thấy cà phê bạt ngàn,  cùng tận hưởng không khí mát mẻ, trong lành.


           Tối hôm ấy có thêm hai bạn nam nữa là Th. và H. vốn là cựu học sinh Pleiku trước 75, một người từ thành phố Ban Mê, một người từ Ninh Hoà- Nha Trang nghe tin người PK về đã vượt đường xa để cùng hội ngộ với chúng tôi. Tình người Pleiku có thể hiện diện bất cứ nơi đâu!
 Không chỉ thế, người dân ở đây còn để lại trong tôi một ấn tượng khó quên. Đó là sẵn lòng giúp đỡ nhau lúc “tối lửa tắt đèn”, nhà TL có cây đu đủ cao khó hái, thấy có người đi qua trước nhà, bạn tôi liền gọi vào nhờ trèo lên hái. Mỗi người của mỗi nhà đều có số điện thoại của nhau để phòng khi có bất trắc xảy ra là gọi nhau cứu giúp. T.L. đã có những người bạn tốt như thế, trong đó nhiệt tình nhất là một cháu trai tên Th- người đã chở tôi đi lại khi còn ở đây. 






          Em có nghe mùa thu (**)

          Tình thu vui rộn rã

          Chuẩn bị mồi tá lả

          Mừng gặp bạn tri âm


   Sau cuộc vui chén tạc chén thù là đến tiết mục văn nghệ “cây nhà lá vườn” hát cho nhau nghe. Tiếng hát như phá tan không gian yên vắng thường ngày và kéo dài đến tận khuya, có lẽ không làm phiền ai vì  tôi nghe cũng có tiếng hát vọng lại từ nhà ai đó trong xóm.

        
        Sáng hôm sau, H. có việc phải về Ninh Hoà (còn Th. đã về Ban Mê trả phép cho bà xã từ đêm qua) những người còn lại đi tham quan thác Dray Nur – một cảnh đẹp nổi tiếng của Daklak. Nếu thác Phú Cường của Gia Lai hùng vĩ về độ cao đến chóng mặt và thường có câu vồng xuất hiện thì thác Dray Nur lại như một bức tường nước trải dài thật ngoạn mục . Tiếc rằng do các công trình thuỷ điện nên đã làm giảm đi vẻ đẹp kỳ thú của dòng thác này.

Tác giả bài viết là người ngồi thứ 2 từ trái sang








        Thác Dray Nur còn hấp dẫn du khách bởi cảnh sắc nơi đây vừa hoang sơ vừa có sự tôn tạo của con người với những bậc thang đá uốn lượn, với cầu treo vắt ngang dòng suối xen giữa các  khóm trúc xanh, với ngôi nhà sàn làm nơi nghỉ chân và uống cà phê hóng mát, ngắm cảnh núi rừng. 


        Trong thoáng chốc, tôi mơ màng nghĩ đến những đêm trăng sáng nơi đây chắc đẹp đến say lòng.

        Đêm cuối, chúng tôi- ba người đều đã lên chức bà, lại cụng ly và cười đùa nghiêng ngả. Chuẩn bị tới 4 chai rượu đủ loại nhưng chỉ để doạ chơi và… chụp hình cho vui thôi. Sau đó, theo yêu cầu của tôi, TL vừa đệm đàn vừa hát bản Serenade để cùng hồi tưởng lại một thời mơ mộng đã đi qua.

        Từ biệt “sơn cốc” thân thương của TL trong sự lưu luyến và mong một ngày nào đó có dịp sẽ quay về.






                 Những ngày vui qua mau

                 Nơi “sơn cốc” đìu hiu

                 Mà Tình Người rực sáng

                 Âm áp tuổi xế chiều 

                 


 Tháng 8- 2015
N.Đ.T (Gia Lai)

(*) Câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm


(**) Dựa ý câu thơ của Lưu Trọng Lư


                                           

        
Read more…

TRĂM NĂM TÂN LỘ KIỀU LƯƠNG - Bút ký Vĩnh Thông

14:31 |

        Vầng dương mai in rõ bước chân 
  Bóng trăng tối lồng theo tận gót (Trích “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương ký”) 

Trong thời gian Thoại Ngọc Hầu trấn thủ Vĩnh Thanh, ngoài việc đào kinh Vĩnh Tế từ năm 1819 đến 1824 ông còn tiếp tục cho đắp một con đường chạy dài từ tỉnh thành Châu Đốc vào núi Sam từ năm 1826 đến 1827. Ngày xưa đất sâu, trũng, nhiều ao hồ ngăn lại rất bất tiện, vì thế việc đắp con đường nầy là một việc làm rất độc đáo. Con đường đắp xong, ông tứ danh là “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương” và đến năm 1828 cho dựng bia đá có khắc bài “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương ký” để kỷ niệm, nội dung bia nói về việc làm đường và lợi ích của con đường. Khi có đường xá thông thương, ông huy động sức dân lập nên các làng mạc bên bờ kinh Vĩnh Tế, bao gồm các làng Vĩnh Nguơn, Vĩnh Tế, Vĩnh Điều, Vĩnh Gia và Vĩnh Thông. Mới đây đã ngót hai trăm năm… Tấm bi ký trứ danh một thời nay đã không còn. Nó đã cùng gió bụi thời gian hòa vào từng thớ đất của vùng biên cương xa xôi. Nhưng, con đường Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương còn đó, 5 ngôi làng kể trên ngày thêm trù mật, cùng với khu Lăng mộ của ông ngày ngày không ngớt khói hương. Ta không thể nào quên được công nghiệp của Thoại Ngọc Hầu trong những công tác kiến thiết biên cương năm nào. Con lộ đó, làng mạc kia, và khu sơn lăng yên bình gợi cho ta bao niềm thương nhớ mà bất cứ người con An Giang xa quê nào cũng phải bịn rịn. Tôi từng được đọc trong quyển “Thoại Ngọc Hầu và những cuộc khai phá miền Hậu Giang” của cố học giả - nhà văn Nguyễn Văn Hầu - một người đã bỏ nhiều công sức sưu tầm, ghi chép và để lại cho đời những tác phẩm nghiên cứu vô cùng giá trị về miền Tây Nam bộ. Quyển sách nêu trên là một tác phẩm lớn, tôi khẳng định thế. Vì qua lời kể của tác giả, ta mới thấy được hết sự khó khăn của người xưa mở đất, lại càng thêm trân quý tấm lòng của tác giả với quê nhà khi đã dày công nghiên cứu ở nhiều địa điểm, nhiều tài liệu. Một chi tiết làm tôi hiếu kỳ và cũng không khỏi xúc động, đó là nhà văn Nguyễn Văn Hầu đã đến tận núi Sam đào những nơi mà ông nghi ngờ để tìm tấm bia “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương ký”. Một việc không tưởng có thể thành công. Đã qua hàng trăm năm, bao lần lũ lụt, bao lần đắp đường, xây dựng nhà cửa… chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ cho tấm bia chìm sâu trong lòng đất. Nhà văn đã quá trân trọng dấu xưa, nhưng có lẽ không có kết quả gì. Ấy thế mà, ông đã thành công, dầu không trọn vẹn. Qua ba lần đào đất ông đều tìm được những dấu vết ban đầu về tấm bia nầy. Lần đầu tìm được một vài mảnh vỡ, chưa dám khẳng định đây là mảnh vỡ của tấm bia. Lần hai là nguyên vẹn cái chân bia. Và lần ba, ông đã tìm được một góc trái phía trên đầu của tấm bia, nhưng rất tiếc chữ đã mòn không còn đọc được, chỉ thấy lờ mờ mấy chữ “Châu Đốc Tân Lộ…”. Mặc dù bi ký không còn, nhưng ngày nay ta vẫn còn lưu giữ được một đoạn cuối bài ký nầy do một vị cao nhân nào đó chép lại và học giả Ngạc Xuyên Ca Văn Thỉnh đã dịch ra. Đặc biệt, trong bài bi ký nầy có một chi tiết làm người đời sau phải chú ý, đó là việc tiền nong để đắp đường. Đáng lý ra đường sá phải được triều đình đứng ra thực hiện, nhưng thực tế thì Thoại Ngọc Hầu chỉ xin “lệnh trên” phê chuẩn. Còn chi phí làm đường do bổng lộc cá nhân ông và các quan viên lân cận quyên góp, nhân dân hỗ trợ sức người và xe cộ. Và cuối bài bi ký ông chỉ khiêm tốn nhận xét việc mình làm rằng: “Làm việc ấy chính là đã tỏ chút lòng đền đáp của kẻ chăn dân”. Như vậy ông đã tự xin được làm đường, tự huy động sức dân, tự bỏ tài sản ra để làm sở phí, cùng nhân dân chung lưng lo cho sự nghiệp cộng đồng. Ấy vậy mà ông chỉ xem việc nầy là sự đền đáp của ông đối với cộng đồng. Thực tế đáng lý ra ông không có gì phải cần đền đáp cộng đồng cả, mà đúng hơn là cộng đồng phải đền đáp những công lao to lớn của ông. Nhưng ông cho rằng mình phải làm thế, đó là bổn phận của một con người chứ không phải là nhiệm vụ của một vị quan.Tại miền Nam và thậm chí cả nước, hiếm có vị quan nào thanh liêm và lo cho dân như thế! Tôi trở lại Tân Lộ Kiều Lương vào một buổi trưa hè đầy nắng, hai bên đường phượng lả tả bay đỏ trời quê núi thân thương. Con đường xưa - nay đã trở thành Quốc lộ phơi mình dưới cái nắng “sáu tháng đạp đất đồng khô” của An Giang. Hai bên đường nhà cửa, dự án đang dần mọc lên. Có lần tôi được xem bức ảnh chụp con lộ nầy những năm 50 - 60 của thế kỷ trước, con đường chỉ là độc đạo, không nhà, không xóm, cây che bóng mát cũng không, chỉ có vài bụi cỏ thấp liêu xiêu trong gió. Những năm cuối thế kỷ XX mà con đường còn hoang vắng thế, thử hỏi thời Thoại Ngọc Hầu thì việc đi qua lại con đường nầy còn khó khăn đến độ nào? Nghĩ đến Tân Lộ Kiều Lương xưa, sực nhớ “Sơn phòng xuân sự” của Sầm Than: “Lương viên nhựt mộ loạn phi nha/Cực mục tiêu điều tam lưỡng gia/Đình thụ bất tri nhân khứ tận/Xuân lai hoàn phát cựu thì hoa”. Cảnh đìu hiu vắng vẻ, cỏ cây núi đá vô tri làm sao biết người đi mất, song cứ mỗi xuân sang hoa lại nở, không cần quan tâm có ai thưởng thức hay không, cứ như có hẹn với nhân thế, với cõi đời nên chúng tự nhiên nở mà không cần bẻ mình làm dáng với ai. Hòn núi Sam kia và Tân Lộ Kiều Lương cũng thế, cứ tự nhiên hòa cùng nhịp thở trăm năm! Mới ngày nào còn hoang vắng, vậy mà giờ nơi đây sắp trở thành đô thị. Con đường chạy dài xanh tít về phía núi Sam. Chỉ có vài cây số nhưng nó đọng lại trong lòng người biết bao hoài niệm. Nhìn từ trên núi Sam xuống, Tân Lộ Kiều Lương giống như con rắn lượn vòng vèo giữa làng mạc, xóm thôn, dưới chân núi là nhà cửa chi chít, xa hơn là ruộng đồng, kinh rạch xanh lơ, và đô thị Châu Đốc nằm tít xa quyện với sương mờ. Trong văn bia “Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương ký” viết rằng đường phải đi qua bốn cái đầm và mỗi nơi đều được Thoại Ngọc Hầu cho bắc cầu ván kiên cố để người và xe qua lại dễ dàng. Thì ngày nay, bốn cây cầu vẫn còn đó, mặc dù đã bao lần xây dựng lại, nhưng ta cũng nên nhớ rằng những cây cầu đầu tiên là do Thoại Ngọc Hầu bắc. Trăm năm nước vẫn xanh dòng, vẫn là núi quyện màu mây, mây in dáng núi, con đường hàng trăm tuổi nầy gợi lại cho người An Giang biết bao niềm nhớ niềm thương. Khó tả thành lời lắm! Ngót trăm năm, bao nhiêu lần dâu bể, cuộc thế đổi xoay, nhưng cái tầm vóc kỳ vĩ người xưa gửi gắm vào từng tấc đất thì không thể phủ nhận. Công đức của Thoại Ngọc Hầu vẫn chưa và sẽ không thể phai mờ. Trăm năm vẫn còn đây vẻ đẹp tự nhiên của Thoại Hà - Vĩnh Tế Hà, còn đây dáng đứng lớn lao uy võ của Thoại Sơn - Vĩnh Tế Sơn. Chúng ta tự hào vì hai ngọn núi, hai dòng kinh mang tên ông và phu nhân, ân huệ đó không quá lớn lao như lời trong bia Vĩnh Tế Sơn và bia Thoại Sơn, mà theo cá nhân người viết bài nầy thì chỉ bấy nhiêu là chưa xứng đáng. Nhưng có lẽ niềm an ủi lớn nhứt là Lăng mộ Thoại Ngọc Hầu ở núi Sam vẫn trầm mặc cùng thời gian, mỗi ngày không ngớt khói hương. Cũng bên cạnh đó, nhân dân tôn kính gọi ông với danh xưa gần gũi hơn so với cái tước Hầu, cái chức Khâm sai của ông rất nhiều, đó là “Ông Quan lớn Bảo hộ”. Người ta gọi Lăng Thoại Ngọc Hầu là Lăng Quan lớn Bảo hộ với câu ca dao xưa đến nay vẫn còn truyền lại: Nước kinh Vĩnh Tế lờ đờ/Nhớ Ông Bảo hộ cặm cờ chiêu an”.Hoặc là câu:Đi ngang qua cảnh núi Sam, Thấy Lăng Ông lớn hai hàng lụy rơi, Ông ngồi vì nước vì đời, Hy sinh tài sản không rời nước non”. Thì, những người An Giang chúng tôi - hỏi làm sao không nhớ, không thương? Chiều nay đi qua Tân Lộ Kiều Lương, chạnh lòng nhớ về người cũ. Ta gọi đó là “ân đức” chứ không đơn thuần chỉ là “công lao”. Một cánh phượng rơi trên Tân Lộ Kiều Lương, một cánh én bay trên đỉnh non Sam, vài chiếc thuyền chạy dọc kinh Vĩnh Tế, tất cả đầy xao xuyến, đầy thi vị và làm người ta phải nặng lòng. Phải chăng đó là khi tâm hồn ta rung nhịp cảm hoài trong mớ ký ức xa xưa, trong câu chuyện mà bà hay kể? Biết đâu rằng, có thể anh linh người mở cõi còn phảng phất chốn nầy, có thể một gốc cây nào đó bên đường từng do người mở cõi trồng nên và có thể tổ tiên ta cũng từng có người làm dân phu đắp nên con đường đó? Có thể lắm chứ! Tất cả chỉ là có thể nhưng chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ cho ta tự hào. Mặc cho cuộc thế xoay vần suốt trăm năm, ta vẫn tự hào có một Tân Lộ Kiều Lương chạy dài mãi trong lòng người…

V.T (An Giang) 
Read more…

TRẠI RUỘNG THỚI SƠN XƯA VÀ NAY - Bút ký Vĩnh Thông

15:00 |





Làng Thới Sơn thuộc huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang ngày nay, là một trong những nơi còn lưu lại khá nhiều di tích liên quan đến công cuộc hành đạo và khai khẩn của tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương - một tôn giáo nội sinh đặc trưng của xứ An Giang. Nói đến Thới Sơn, người ta không chỉ nghĩ đến chốn hành hương của riêng của tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương mà còn là điểm đến đầy thú vị của khách du lịch gần xa, nhứt là giới nghiên cứu văn hóa - sử học.

Quan sát bản đồ ta có thể dễ dàng nhận thấy, Thới Sơn là cửa ngõ vào vùng Thất Sơn, cũng là tiền đồn án ngữ vùng biên cương nầy. Cả xưa và nay, Thới Sơn đều có một vị trí chiến lược trong nhiều lĩnh vực: quân sự, kinh tế, văn hóa… Để đến được Thới Sơn, chúng ta có thể đi theo Quốc lộ 91 đến địa phận thị trấn Nhà Bàng tiếp tục rẽ sang đường tỉnh 948 qua khỏi núi Két khoảng một cây số rồi rẽ trái sẽ lần lượt đến được các di tích như đình Thới Sơn, chùa Thới Sơn, chùa Phước Điền.
Thới Sơn xưa bao gồm hai làng Hưng Thới và Xuân Sơn (mà nay gộp lại thành Thới Sơn) do Đức Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên chủ trương cho tín đồ khai phá để canh tác và tu tập. Hai vị tiền bối có công lao lớn nhứt trong buổi đầu là ông Tăng Chủ tên thật Bùi Văn Thân và ông Đình Tây tên thật Bùi Văn Tây. Có thuyết nói ông Tăng Chủ là bác ông Đình Tây, nhưng cũng có người cho rằng hai ông là anh em họ. Dầu sao, đối với người đời nay, cả hai vị đều được kính trọng vì là những bậc đại đệ tử của Phật Thầy, đã có công dẫn dắt tín đồ khai khẩn và hình thành làng xóm.
Nói đến đây, không thể không nhắc sơ lược về nền đạo Bửu Sơn Kỳ Hương khá đặc biệt nầy. Người sáng lập đạo có tên là Đoàn Văn Huyên (1807 - 1856), sau xuất gia với pháp danh Minh Huyên - Pháp Tạng (nên còn gọi là Đoàn Minh Huyên). Ông là một nhà doanh điền, nhà yêu nước, nhà cải cách tôn giáo. Năm 1849 quanh vùng Hậu Giang xảy ra dịch bệnh, ông đi nhiều nơi trị bệnh cho dân và phổ truyền giáo lý, khuyên mọi người tu hành.
Đạo của ông dạy tín đồ Tứ ân: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân Tam bảo, ân đồng bào nhân loại. Tu không coi trọng hình thức, không bày trí hình tượng mà chỉ thờ Trần điều (tấm vải đỏ) tượng trưng cho vô vi và thanh tịnh. Người tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương không xuất gia mà tu tại gia, cũng không tụng kinh gõ mõ, không ngồi chờ đắc đạo (xuất thế) mà phải làm lụng phục vụ cuộc sống vừa tạo tác phước điền (nhập thế). Ngoài ra, ông còn cùng các đệ tử khẩn hoang, lập xóm ấp cho người dân đến sống và canh tác. Người đời sau tôn xưng ông là Đức Phật Thầy Tây An.
Điểm qua một số di tích tại Thới Sơn. Đình Thới Sơn là cơ sở được thành lập trễ nhứt. Một số ý kiến cho rằng “đây là Trại rẫy, Phật Thầy cho dựng đình thờ thần hoàng” là không đúng, vì chỉ có Trại ruộng chứ không có Trại rẫy, và Đình Thới Sơn cũng được lập sau khi Phật Thầy viên tịch. Khi vùng Xuân Sơn và Hưng Thới đã được trù mật, ông Tăng Chủ và Đình Tây bắt đầu chuyển sang chú trọng việc chăm lo tu tập cho tín đồ. Xét thấy thôn Hưng Thới đã có chùa nhưng thôn Xuân Sơn thì chưa nên hai vị lập chùa Xuân Sơn (thờ Phật), khi hai thôn sát nhập thì đổi thành Đình Thới Sơn (thờ Thần).
Ban đầu đình được xây cất bằng cây rừng, mái tranh, vách lá, nền đất. Sau bao nhiêu lần tín đồ trùng tu cũng chính là bấy nhiêu lần quân giậc bị đốt phá. Mãi đến những năm 70 - 80, đình mới được xây dựng lại khang trang. Kiến trúc của đình cũng theo kiểu các đình miếu miền Tây Nam với mái cổ lầu, nóc lợp ngói, vách tường và nền xây cao ráo, cột trụ cũng bằng xi măng. Nội thất đình trang trí hoa văn nhiều sắc màu, các khánh thờ chạm trổ công phu, sắc nét. Giữa thờ Thành hoàng Bổn cảnh như những Đình khác, phía sau thờ Đức Phật Thầy và Thập nhị Hiền thủ (mười hai cao đồ của Phật Thầy). Trước đình là cổng tam quan có mái che cổ kính, bên cạnh là di tích cổ thụ được rào lại cẩn thận bởi vì tương truyền ngày xưa Đức Phật Thầy thường ngồi tịnh nơi gốc cây nầy.
Gần đó là chùa Thới Sơn. Đây cũng là nơi được thành lập sớm. Trước kia được dùng làm chỗ tu hành, thờ phượng theo nghi thức đơn giản của Phật Thầy. Ngày nay, chùa được xây dựng lại với quy mô nằm giữa một khuôn viên rộng lớn, thoáng mát với nhiều cây xanh, hoa kiểng. Chùa mang kiến trúc hiện đại và sáng tạo, khá đẹp mắt. Mái ngói và các hàng cột được đắp nổi nhiều hình rồng, búp sen, chim thú, hoa lá… Cửa bầu theo kiểu phương Tây thế kỷ XIX, các liễn đối không phải vẽ mà được ghép lại từ các mảnh sành rất điêu luyện.
Trong chùa có hai gian, chánh điện thờ Tam bảo, hậu điện thờ Phật Thầy Tây An. Xung quanh còn phối thờ Hộ pháp, Chư quan cựu thần, Năm non bảy núi, Thập nhị hiền thủ, Cửu huyền thất tổ, và nhiều bàn thờ khác… Đặc biệt, mặc dầu ít nhiều thay đổi so với buổi đầu, nhưng chùa vẫn giữ y truyền thống đạo với bức Trần điều. Hàng năm, cứ đến những dịp Tết, ngày rằm, các ngày lễ đạo thì tín đồ lại tề tựu về đây để cùng nhắc nhở nhau về công lao của các bậc tiền bối.
Chùa Phước Điền là nơi Phật Thầy và các đệ tử dẫn dắt dân nghèo vượt qua những năm tháng đầy khó khăn, gian khổ. Họ khai phá và lập những cơ sở tôn giáo đầu tiên gọi là “Trại ruộng”. Ngoài mặt “Trại ruộng” để che mắt sự dòm ngó và gây khó dễ của triều đình, nhưng thực tế đây là một cơ sở tôn giáo thuở sơ khai của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Nơi đây, sau khi tín đồ khai phá vùng đất hoang vu, họ bắt tay vào cày cấy, sản xuất, như quan niệm của Đức Phật Thầy từ buổi đầu lập đạo.
Theo nếp sống và sinh hoạt được định ra từ những ngày đầu, thì ban ngày tín đồ cùng nhau trồng trọt, cày cấy, đến tối sẽ lo tu tập: “Khát thời uống nước Tào Khê/Đói ăn ma phạn tối về canh tân”. Như vậy rõ ràng đây là một mô hình mới và độc đáo, vừa có thể tu hành nhưng cũng không vì lợi ích bản thân mà quên đi cộng đồng xã hội. Chủ trương đó của Phật Thầy dẫu đã qua gần hai trăm năm, trại ruộng xưa nay đã thành chùa chiềng, làng mạc, nhưng tư tưởng ngày ấy vẫn được tín đồ kế tục và phát huy.
Ngày nay khuôn viên chùa Phước Điền có diện tích rộng lớn, tuy nhiên quy mô chánh điện lại nhỏ. Đó là bởi vì chủ trương Phật Thầy là giản dị hóa cách thức hành đạo, không xây chùa am lớn vì Phật cốt ở tâm chứ không phải xây chùa cao, đắp tượng lớn. Tại chùa Phước Điền ngày nay vẫn còn hai câu đối tương truyền là của Phật Thầy. Câu đối ở cổng chùa: “Nhứt trần bất nhiễm Bổ Đề địa/Vạn thiện đồng quy Bát Nhã môn” và tại Chánh điện: “Phước bảo thiền quang thanh tịnh vô vi thường phổ chiếu/Điền kinh công đức viên dung bát nhã biến thông truyền”.
Và, một điều đặc biệt, hiện trong khuôn viên chùa còn có một khoảng đất rộng được dọn dẹp sạch sẽ, rào lại tươm tất, đó chính là nơi chôn cất hai con trâu của Phật Thầy. Nhân dân kính trọng đôi trâu nầy như người hữu sông với làng xóm là vì lúc sinh thời Phật Thầy đã nuôi đôi trâu và khi khai khẩn Thới Sơn thì đôi trâu đã cùng giúp đỡ bà con chuyên chở hàng hóa. Chính vì thế khi đôi trâu qua đời, nhân dân trong vùng đã chôn cất bên cạnh chùa và gọi hai “ông” trâu là ông Sấm, ông Sét. Chỉ là những con vật nhưng nếu có công thì vẫn được đồng bào ta tôn kính như con người, thế cũng đủ biết người miền Tây trọng tình nghĩa thế nào.
Giờ đây, thế kỷ 21 chúng ta thử nhìn lại chặng đường khai khẩn của tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương gần hai trăm năm trước. Cả một vùng đất hoang vu sỏi đá, tín đồ chỉ với công cụ thô sơ và trâu bò đã cày cấy, sản xuất, khai mở hai ngôi làng mênh mông. Đó là chưa kể thiên nhiên khắc nghiệt, thú dữ, bệnh tật. Tuy nhiên, người tín đồ không chỉ rèn sức khỏe và sự chịu đựng để sống ở vùng đất khó khăn này, mà còn phải rèn cả tâm hồn, nuôi dưỡng đạo đức của một người tu hành. Nhà văn Nguyễn Văn Hầu nhận xét: “Người ta thấy nếp sống gần với thiên nhiên nầy rất thi vị và thoát tục, nên vui lòng theo đuổi mãi công việc”.
Sống trong cảnh “Huê tươi trước mặt thơm tho nực/Thú dữ bên mình nhã nhớn chơi” nhưng họ không chùng chí mà vẫn có thể “Dày cỏ tới lui trời đất rộng/Ao sen xài xạt núi sông dài”. Có lẽ bởi, tâm hồn người tu hành đã rời khỏi sự tác động của ngoại cảnh: “Một tấm lòng nhàn mây sắc trắng/Trăm đường tục lợi nước màu xanh”. Rõ chẳng phải là thoát tục đó hay sao? Và, rao giảng thuyết “tận thế” và vùng Thất Sơn chính là “thánh địa” cũng chính là một hình thức “doanh điền” hết sức độc đáo để gom dân về vùng hẻo lánh, khuyến khích định cư và canh tác, làm vùng đất khô cằn nầy trở nên trù phú.
Đã qua gần hai thế kỷ nhưng mô hình “Trại ruộng” độc đáo vẫn đầy kỳ bí và hấp dẫn trong mắt các nhà nghiên cứu. Về phía những tín đồ, họ vẫn tiếp tục trùng tu cơ sở và không ngớt hương khói đối với bao công lao của người xưa. Bên cạnh những di tích đó còn có núi Két tên chữ là Anh Vũ Sơn cũng mang nhiều dấu ấn của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và là điểm đến hấp dẫn cho khách du lịch gần xa. Dẫu là di tích của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương ngày nay còn lại không nhiều. Nhưng mỗi nơi, mỗi câu chuyện là những bài học lớn cho người đời sau.
V.T (An Giang)
Read more…

ĐỒNG GIEO, NGÀY ẤY - BÂY GIỜ - Bút ký Nguyễn Hữu Duyên

15:00 |






Về Nhơn Lộc, trong những ngày tháng 3 năm nay, tôi thực sự ngỡ ngàng vì được chứng kiến sự đổi thay kỳ diệu của một xã đạt chuẩn nông thôn mới đầu tiên của thị xã An Nhơn. Nhơn Lộc sau giải phóng là vùng đất từng được coi nghèo nhất huyện...

Với Nhơn Lộc, nhà thơ Yến Lan từng viết những câu thơ cháy lòng:

Lâu không về Đồng Gieo
Ngại Đồng Gieo khô khát
Nhớ cái xóm lưng đèo
Một năm, một vụ gặt

Ngọn cỏ như ngọn chông
Con bò ăn xốc cổ
Đầu gà trụi cả lông
Sục gai tìm dế mổ

Thương cái rựa lỏng khâu
Tất bật cùng than củi
Ngày lấn mãi vào sâu
Rượt cây rừng chém đuổi
…                
(Lâu không về Đồng Gieo – Yến Lan)

Nhơn Lộc vốn là xã nghèo, bởi đất thì bạc trắng, ruộng làm chỉ trông vào nước trời nên mỗi năm chỉ một vụ lúa Trì “gieo thúng sét cắt thúng vun”. Phần lớn người dân nơi đây phải vào rừng đốt than, bứt mây, hái lá dang, hái sim, suốt chà là… mang ra chợ Bình Định, chợ Cây Bông, chợ An Thái… đổi lấy gạo, mắm, rau, sách vở…
Nhưng rồi mọi thứ đã thay đổi khi hồ Núi Một hiện hình: năm 1978! Cái công trình thủy lợi được coi như là một biểu tượng đẹp của CNXH này được người nông dân Nhơn Lộc nói đến bằng cả sự trân trọng và biết ơn. Hồ Núi Một giúp Nhơn Lộc cải tạo và mở rộng đồng ruộng, thâm canh tăng năng suất và sản lượng cây trồng. Và ngoài chuyện góp phần làm nên áo cơm cho vùng đất phía tây nam An Nhơn và các xã khu đông Tuy Phước, hồ Núi Một còn là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn, một bức tranh thiên nhiên quyến rũ giữa đại ngàn lung linh huyền ảo…
Giờ đây, ai lần đầu đến Nhơn Lộc đều không thể tin rằng nơi đây từng một thời gieo neo, khó khổ. Nhơn Lộc giờ đã là nơi chuyên canh lúa giống Nguyên chủng và cấp 1 của thị xã An Nhơn. Hằng năm Nhơn Lộc làm ra hơn 900 tấn lúa giống. Anh Cao Văn Nghĩa, Chủ tịch UBND xã không giấu được vẻ tự hào: “Nếu 2010, tỷ lệ hộ nghèo là 5,88% thì đến đầu năm 2015 này chỉ còn 3,81%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2014 là 26,3 triệu đồng!”.
Là người có duyên nợ với Nhơn Lộc từ vài mươi năm trước, tôi hiểu cuộc “lột xác” ấn tượng hôm nay có vai trò kiến trúc rất lớn của anh Hồ Đình Long, vị lãnh đạo xã thâm niên (từ năm 1988 đến năm 2004). Tôi tìm gặp và nghe anh Long tâm sự: “Ngày nhận nhiệm vụ chủ tịch xã, tôi chỉ mới ngoài 30 tuổi. Với suy nghĩ phải cố gắng làm một điều gì đó cho quê hương và rồi tôi chọn Gò Dưa để bắt đầu cho sự nghiệp của mình…”.
Gò Dưa vốn là nghĩa địa, hoang vắng; là nỗi ám ảnh của người sợ ma khi có việc phải đi ngang qua vào thời điểm chạng vạng đến bình minh. Giờ đây Gò Dưa đã thành khu trung tâm sầm uất với trường học, bưu điện văn hóa xã, chợ, công viên, sân vận động, khu vui chơi thiếu niên, nhà văn hóa xã… Tôi biết để có được Gò Dưa như hôm nay là một sự nỗ lực vận động lớn của cả hệ thống chính trị ở Nhơn Lộc trong một thời gian khá dài, đặc biệt là tâm huyết và tầm nhìn của người “nhạc trưởng” Hồ Đình Long.
Ngồi với nhau bên chén trà trong buổi sáng đầu xuân 2015, khi tôi đã bấm máy ghi âm mà anh vẫn cứ trầm tư. Mãi sau, anh cười: “Nói gì đây anh? Người ta sẽ bảo mình kể công thì không hay lắm”. Tôi khuyến khích: “Anh à, nói mà không làm là có tội với Đảng, với dân. Nhưng làm được mà không nói cũng là người ích kỷ đấy!”. Có lẽ khúc dạo đầu này đã giúp anh thoải mái hơn. Thế là những thước phim của gần 30 năm về trước được anh thuyết minh rõ ràng, khúc chiết. Qua đó tôi hiểu thêm, anh không làm cho riêng mình, và thành quả từ những năm ấy thuộc về Đảng bộ và nhân dân Nhơn Lộc.  
Năm 2014, Nhơn Lộc đạt sản lượng hơn 8.450 tấn thóc (con số mà những năm 70 của thế kỷ trước người dân Nhơn Lộc nằm mơ cũng không thấy) có sự bắt nguồn từ dòng nước hồ Núi Một. Và nếu như ngày ấy không quy hoạch cải tạo Gò Dưa thì sao bây giờ có khu trung tâm xã sầm uất với nhiều công trình dân sinh và những con đường bê tông đẹp như tranh nối liền các thôn về chợ Nhơn Lộc, cũng như thông thương với các xã lân cận. Tất cả là tiền đề để 19 tiêu chí của Đề án xây dựng xã nông thôn mới giai đoạn 2012-2015 được Nhơn Lộc hoàn thành trước một năm và UBND tỉnh đã ra Quyết định công nhận.
Thế hệ lãnh đạo của Nhơn Lộc ở những năm 80-90 thế kỷ 20, có thể không nhận được nhiều huân, huy chương nhưng họ nhận được rất nhiều sự tin yêu của người dân. Cái nền móng họ xây dựng được không chỉ là công trình phục vụ an sinh xã hội mà đó còn là đội ngũ kế cận có phẩm chất và năng lực. Có thể đưa ra một con số khá thuyết phục: 21/22 cán bộ, công chức của xã có trình độ đại học với từng chuyên ngành cụ thể, phục vụ tốt yêu cầu nhiệm vụ của địa phương.
Tôi có dịp tiếp xúc với người nông dân từ Trường Cửu đến An Thành, từ Cù Lâm đến Tráng Long và cả những bạn trẻ, những doanh nhân của Nhơn Lộc... Điều chung nhất tôi nhận được ở họ là sự quý mến dành cho đội ngũ cán bộ chủ chốt của xã, nhất là khi Nhơn Lộc được công nhận xã nông thôn mới. Danh hiệu này đã đem lại cho người dân Nhơn Lộc nguồn kinh phí hỗ trợ rất lớn từ ngân sách thị xã, tỉnh, Trung ương và các nguồn vốn khác. Tổng kinh phí thực hiện xây dựng nông thôn mới hơn 88 tỷ đồng, trong đó ngân sách xã chỉ đầu tư hơn 12 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ gần 14%. Đường liên thôn, liên xã được nhựa hóa, bê tông hóa; hệ thống kênh mương nội đồng được kiên cố hóa; mạng lưới điện được bố trí 100% khu vực dân cư; cơ sở vật chất trường học, trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia… Riêng trong năm 2014, kinh tế của Nhơn Lộc tiếp tục tăng trưởng khá, tổng giá trị sản xuất ước đạt 102,77 tỷ đồng, tăng 11,53% so với năm 2013. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó tỷ trọng ngành nông nghiệp: 46,6%, công nghiệp tiểu thủ công nghiệp: 40%, và thương mại dịch vụ chiếm 13,4%...
Điều gì trong 40 năm qua đã giúp Nhơn Lộc làm nên điều kỳ diệu?
Anh Cao Văn Nghĩa, Chủ tịch UBND xã, xác định: “Đó là nhờ sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo thị xã và sự nỗ lực của cán bộ, nhân dân địa phương. Đảng bộ và chính quyền xã đã cụ thể hóa chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn phù hợp với tình hình thực tế, lấy lợi ích của nhân dân làm trung tâm của mọi chương trình, kế hoạch hành động, được người dân đồng thuận và tích cực hưởng ứng”.
Tôi tâm đắc với anh Cao Văn Nghĩa với ý thức “lấy lợi ích của nhân dân làm trung tâm của mọi chương trình, kế hoạch hành động” của địa phương. Bởi nếu không vì điều đó, không thể biến khu Gò Dưa trở thành khu trung tâm xã sầm uất như hôm nay. Ai cũng biết việc đụng chạm đến mồ mả, một lĩnh vực của đời sống tâm linh, không hề dễ với người Việt nói chung và với người dân Nhơn Lộc. Nhưng nếu dân cư cả xã cứ co cụm dọc theo nhánh sông Côn ở phía bắc thì không thể phát triển được. Trong khi đó phía nam của xã giáp quốc lộ 19, thông thương với các tỉnh Tây Nguyên và thành phố Quy Nhơn dân cư lại thưa thớt! Muốn thoát nghèo, không có cách nào khác, trung tâm xã phải được mở về hướng nam mà khu Gò Dưa là điểm nhấn. Ý Đảng lòng dân đã như một. Nhơn Lộc đã đúng khi chọn Gò Dưa là điểm để “bay lên”. Và thôn Tân Lập được hình thành, trở thành khu đô thị trung tâm xã…  
Khai thác tối đa vị trí phong thủy tuyệt vời của khu đô thị trung tâm, chợ trung tâm xã cũng được dời về đây để kết nối thông thương hàng hóa với các xã Nhơn Hòa, Nhơn Phúc, Nhơn Thọ và hàng hóa từ Tây Nguyên xuống. Với quan niệm “chợ tan thì làng mạt”, việc mở ra chợ trung tâm để xóa đi 2 chợ cũ là An Thành và Đông Lâm cũng là một thách thức lớn đối với chính quyền địa phương. Song với cách làm hợp lý là “đột phá” vào các đảng viên lão thành, gia đình có công với cách mạng có lợi ích trực tiếp ở gần 2 chợ cũ để họ động viên các hộ dân khác ủng hộ việc làm vì lợi ích chung. Và cuối cùng cái chợ trung tâm cũng đi vào hoạt động ổn định mỗi ngày hai buổi nhóm, góp phần lớn vào việc đáp ứng nhu cầu trao đổi hàng hóa cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Chỉ tính riêng trong năm 2014, giá trị sản xuất ngành thương mại – dịch vụ ước đạt gần 25 tỷ đồng, tăng 26% so với năm trước, trong đó có sự đóng góp phần lớn của chợ trung tâm.
Uống với người bạn học vài ly rượu Bàu Đá sau bao tháng năm bận bịu áo cơm, tôi lại nhớ cái gánh than của ba anh, cái thúng chà là của mẹ anh để trước hè ngày ấy. Và, tôi lại nhớ những đêm say nghe anh Hồ Đình Long kể chuyện được mất của mùa màng, nghe Phi Yến, Lâm Xuân Sanh, Trần Văn Định kể chuyện vui buồn của Đồng Gieo, nghe Ngọc Thiện hát những bản tình ca ngọt ngào…
Nhớ có lần có lẽ vì say quá và vì ánh trăng đầu tháng lờ mờ, tôi và xe đạp nhào xuống ruộng. Tôi la lớn với anh Hồ Đình Long, nhớ cố gắng làm chủ tịch xã rồi làm đường cho ngon nghen anh. Đường sá thế này thì không say cũng té. Anh kéo tôi lên và chỉ cười. Không ngờ sau vài năm anh được tín nhiệm làm chủ tịch xã, chẳng những 34 km đường giao thông nông thôn được bê tông hóa, mà Nhơn Lộc còn có thêm thôn Tân Lập, có điện phục vụ sản xuất và dân sinh…
Sau mấy chục năm trở lại Nhơn Lộc, tôi thực sự choáng ngợp với những con số phản ánh sự phát triển của vùng đất này trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Tôi cố đi tìm câu trả lời vì đâu đồng gieo phát triển nhanh đến vậy? Những ngày ở lại với làng nghề đan tre Cù Lâm, làng nghề bánh tráng Trường Cửu, làng rượu Bàu Đá; đến với một số trang trại chăn nuôi và sản xuất của người nông dân; ngồi uống ly cà phê trước UBND xã, vòng xe trên các đường thôn ngõ xóm; ăn bữa cơm với người bạn thời còn học cùng lớp thời phổ thông… tôi đã nhận ra: dòng nước hồ Núi Một và cái Gò Dưa hoang vắng ngày nào thành thôn Tân Lập hôm nay chính là bệ phóng quan trọng để Nhơn Lộc phát triển, được công nhận là xã nông thôn mới trong năm 2014!
Anh Nguyễn Thành Sơn, Phó chủ tịch UBND xã, tâm tình: “Được công nhận xã nông thôn mới chỉ là bước đầu. Trong năm 2015 và những năm tiếp theo, Nhơn Lộc còn phải tập trung củng cố 19 tiêu chí xã nông thôn mới, bởi suy cho cùng 19 tiêu chí ấy sẽ giúp cho đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện”. Tôi hiểu ý anh Sơn và kỳ vọng Nhơn Lộc với quyết tâm tiếp tục giữ vững và nâng cao chất lượng các tiêu chí xã nông thôn mới, tiến tới xây dựng nông thôn tiên tiến, giảm tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2015 còn 3% - 3,5%... sẽ thành hiện thực.
Tạm biệt Nhơn Lộc, tạm biệt xã nông thôn mới được công nhận đầu tiên ở thị xã An Nhơn, trong tôi vẫn còn miên man bao cảm xúc...  
Có điều gì mà không thành khi trong mọi chương trình, kế hoạch hành động, Đảng bộ xã “luôn lấy lợi ích của nhân dân làm trung tâm”!



N.H.D
Read more…