Trang Văn Thơ Việt Nam

NẺO ĐỜI - Truyện ngắn Đào Phạm Thùy Trang

14:25 |



Chị, ba sáu tuổi mới có được “bến đỗ”.
Hồi trước, năm ba lần những người đàn ông yêu thương thật lòng, có nhiều yếu tố của người chồng, người cha tìm đến với chị. Cũng dăm ba lượt con tim chị xao xuyến yêu thương nhưng tính tới việc cưới xin thì mẹ chị đều bật bóng đèn 500kw “soi” anh ta rất kỹ để cuối cùng là cái lắc đầu.
Hai lăm tuổi, chị là thợ may có tiếng trong xã, anh hai bảy tuổi là thợ hồ với thu nhập của “thợ nhất” rất ổn định. Anh không nhậu nhẹt, bài bạc gì. Nhưng… anh lại là con trai duy nhất của gia đình. Mẹ chị sợ mai này con gái mình sẽ khổ vì chuyện làm dâu. Vậy đám cưới không diễn ra dẫu anh năn nỉ thế nào.
Ba mươi tuổi. Chị vẫn là cô thợ may với chục học trò. Một anh nhân viên điện lực đến xin “đăng ký” làm học trò của cô giáo dạy may bằng điều kiện “suốt đời tôi chỉ học cô thôi”. Anh không là con trai duy nhất, không bài bạc rượu chè, thu nhập cũng ổn định nhưng bây giờ mẹ chị lại thêm “điều kiện” phải ở rể vì lý do bà chỉ có… 3 đứa con gái. Anh một bước “đàng sau quay” vì bảo mình dư sức tạo nhà cửa cho vợ, thân trai ở rể như cá mập nuôi hồ kính.
Hai đứa em chị lần lượt ra trường đi làm. Chúng bay nhảy nhiều, quen nếp sống phố thị nên không “chịu phép” mẹ như chị. Chúng công khai chìa giấy đăng ký kết hôn rồi mới tính tới chuyện cưới hỏi. Mẹ chị “ngậm bồ hòn làm ngọt” và bao nhiêu hi vọng về một đứa con rể vừa ý mẹ đều “trông cậy” vào chị. Chị không dám “vượt khung” như em mình, dù sau chị cũng còn chục đứa  học trò, sợ chúng nhìn vào sẽ mất “tín nhiệm”. Ba ba tuổi, chị lại có người tính kết chuyện trăm năm. Anh đủ các điều kiện như hai chàng “rể hụt” trước. Nghĩa là: không phải con trai duy nhất và chấp nhận ở rể. Nhưng lần nữa mẹ chị lại “khuyến mại” thêm điều kiện mới: phải cất lại cái nhà bà đang ở thành ngôi nhà hai tầng nóc Thái thì hôn lễ sẽ diễn ra nhanh chóng “Vì nhà này mai mốt cũng vợ chồng con sống chứ ai”. Anh làm gì có được hàng trăm triệu như thế? Chị tiếc tình khóc chết lên chết xuống rồi cuối cùng an ủi mình bằng câu “bên tình bên hiếu làm sao so bì”.
Ba lăm tuổi, mẹ mất. Chị bỏ tiệm may đi làm nhân viên khai thác bảo hiểm. Lúc đó “nghề” này còn chưa bão hòa nên chị có nhiều hợp đồng, đủ ăn đủ mặc. Lấy chồng ngay năm 36 tuổi, là một đồng nghiệp. Thu nhập từ nghề bảo hiểm vợ chồng dư sống và sinh liền tù tì hai đứa con trong năm ba bảy và ba tám tuổi. Nhưng sau đó vài năm, nghề bảo hiểm chớm bão hòa. Chồng chị không còn khai thác được hợp đồng nữa, cộng với sự bao bọc lưỡng của vợ thành ra ỷ lại, bao nhiêu tiền bạc đều đổ vào rượu và các mối quan hệ lăng nhăng. Chị “không chịu được nhiệt”, chia tay cái rột sau bốn năm làm vợ. Rồi về “đầu quân” cho một thương hiệu trà thảo dược do bà chị dâu của tôi làm giám đốc.
Tôi ngoài công việc ở một cơ quan hành chính thì làm bán thời gian cho bà chị dâu Giám đốc, mảng khai thác thị trường do chị làm trưởng phòng. Bà chị bảo, tại tuổi tôi hợp với cung “lợi khẩu” nói năng thế nào cuối cùng cũng lọt lỗ tai người nghe nên phụ trách mảng khai thác là hợp lý nhất.
***
Chị điện thoại cho tôi “Hôm nay chị đi Củ Chi khai thác thị truờng được 1 đơn hàng hơn 20 triệu. Nhưng đường xa, đi chung với vài chị em trong phòng kinh doanh thì về sẽ chia hết tiền lời. Vậy nên chị đi có một mình. Nhưng ai trong phòng hỏi thì em vui lòng nói giùm là em đi với chị nghen!”. Tôi nhận lời chị đơn giản vì mình là “cấp dưới”. Đây lại là lần đầu tiên chị nhờ, không cách nào thoái thoát bởi đơn giản chỉ là một câu “Dạ”.
Nhưng sự việc không suôn như chị nghĩ khi sáng hôm sắp giao hàng thì chị bị Phó giám đốc không cho lấy hàng bởi chị đã “ký sổ” mấy lần rồi vẫn chưa thanh toán. Chuyện chẳng có gì đáng nói nếu chị bỏ đơn hàng đó, hoặc năn nỉ một chút chắc bà Phó cũng xiêu lòng. Đàng này chị đùng đùng bỏ về, còn hùng hổ nói sẽ bỏ việc công ty, ra làm chuyện khác cũng dư sống. Tôi thương chị, tuổi năm mươi rồi, tìm việc khác có dễ như lời nói?
Bất ngờ tối hôm đó, chị điện thoại cho tôi rằng “Em ơi, cái đơn hàng ở Củ Chi đó, chị đã chi cho người giới thiệu 500 ngàn và làm bảng hiệu tặng họ hết 500 nữa. Số tiền đó không nhiều nhưng cũng khó kiếm. Nhất là nếu không giao được thì uy tín chị sẽ giảm sút, vì ký hợp đồng sao không có hàng giao? Thôi, em đã lỡ nói là đi với chị, mà em cũng là em chồng bà giám đốc, nên xin em giúp chị lần này, em hãy nói với Giám đốc rằng đơn hàng đó, chị Tuyến bỏ thì cho em nhận, em giao cho khách. Được như vậy, uy tín chị không mất đi, mà tiền đã chi cũng không uổng. Khi giao hàng rồi, tiền lời 2 chị em mình chia”.
Thật sự thì tôi thương chị chứ không hẳn vì ham mấy đồng lời của chuyến hàng đó. Làm việc với nhau nửa năm nay, chị chức danh Trưởng phòng, tôi chỉ là nhân viên làm việc bán thời gian nhưng chị không “ăn hiếp” chị em làm việc cũng "ăn ý". Hoàn cảnh chị cũng đáng thương: công ty bảo hiểm- nơi chị làm việc hơn mười năm nay- sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì “rút” về công ty mẹ, bỏ lại các nhân viên bản địa với số nợ lút đầu. Chị là người trực tiếp nhận tiền của khách hàng nên họ cứ nhè chị mà níu lưng. Ra tòa mấy lượt, chị bán đổ bán tháo tài sản để trả họ, bây giờ ở cái tuổi đáng ra đã bình yên thì phải bôn ba mưu sinh nuôi hai đứa con khi chồng bỏ đi và để lại một mớ "di sản... nợ" khá nhiều.
Bà chị dâu Giám đốc đồng ý ngay khi tôi lên tiếng nhận chuyến hàng đó.  Nhưng tôi thật sự lúng túng khi trò chuyện với kế toán để được nhận hàng bởi cảm giác xấu hổ của kẻ nói dối cứ “kín đầu hở đuôi”. Kế toán hỏi, đơn hàng gần 20 triệu gồm những gì? Trả lời xong, lại hỏi cái này là bỏ cho cấp xã hay huyện, chị Tuyền có nói sẽ tính cho họ phần trăm như thế nào không? Tôi thật sự không biết nên trả lời kế toán “không biết”. Cô ấy hình như vẫn đùa dai nên bảo: “Sao chị không biết nhiều quá vậy?”.  “Vì lần đầu làm một mình, lại làm theo hướng dẫn của chị Tuyền nên chị bảo sao, tôi làm vậy”. Hú hồn. May mà kế toán chắc mệt rồi nên không hỏi nữa. Đơn hàng lãnh xong, ra đầu đường thì a lô cho chị nhận mang về. Lòng tôi phấp phới niềm vui vì giúp cho người được một việc tốt.
Thế nhưng sáng thứ 2 giao hàng mà chiều chủ nhật chị vẫn chưa gọi cho tôi biết thời gian cùng xuất phát. Tôi nôn nóng bởi đơn hàng vẫn là mình “ký sổ”, hẹn với kế toán 11 giờ trưa sẽ nộp tiền. Giờ chị chưa quyết định lịch trình, sao mà về kịp? Tôi bảo, muốn đi cùng chị giao hàng, để mai này lỡ có gặp “sự cố” như thế nữa thì nói dối kế toán cũng trơn tru. Chị đồng ý. Vậy mà khi gặp nhau lại chở tôi đi vòng qua chợ Long Hải, tôi hỏi, đi giao hàng ở Củ Chi, sao lạ thế? Chị bảo “Em ngu quá, đi gần nhưng nói đi xa vậy công ty mới chi phần trăm cao!”. Tôi ngớ người, dạ sáng rừng rực vì một bài học quá đắt lại được thọ giáo trong ít phút mà không mất đồng xu lẻ.
 Nhưng sau khi đến Long Hải một đoạn thì chị có điện thoại và rối rít bảo tôi phải quay về bởi có khách hàng mới đang chờ tư vấn ở cà phê ABC. Chị sẽ đi nhanh về chóng để kịp giao tiền tôi nộp kế toán. Tôi dấm dẳng “Sao chị đã đồng ý cho em đi chung rồi? Khách hàng đó hẹn hôm sau tư vấn cũng được mà?” Chị bảo, làm ăn phải biết chớp thời cơ, đã có khách cần tư vấn mà khất hẹn, là… dâng mồi cho cọp đó biết không?
Rồi chị đi. Từ 9 giờ sáng cho lộ trình 100km của hai chuyến đi - về mà những 6 giờ chiều mới về tới! Và thế là tôi cũng thất hẹn với kế toán công ty bởi cách làm việc rất ư “trách nhiệm, uy tín” của chị. Đau lòng hơn, vừa gặp nhau, chị nói “Chuyến hàng này lỗ te tua luôn! Chị quên, hôm bữa phải nhờ chị Hoa hay chị Hương lấy hàng cho chị là được rồi. Nhờ em làm chi cho phiền quá, em còn con nhỏ phải lo. Nè, em nhận 200 ngàn đi!”
Tôi chết sững nhưng cũng muối mặt nói rằng “2 ngày nay em chạy hàng cho chị tốn kém lắm, chị cho em 100 ngàn nữa đi, bao nhiêu đây không đủ!”. “Vậy giờ em muốn nhiêu? Tôi bị lỗ, đưa như vậy, em không lấy thì thôi”. Tất nhiên tôi không nhận.
Bảo với bà chị dâu Giám đốc, rằng tôi sẽ nghỉ làm nhân viên bán thời gian. Bà chị lại nói, tuổi tôi hợp cung “lợi khẩu”, công việc đang trơn tru thế, sao nghỉ ngang? Nay mai chị định rút em về văn phòng mảng tư vấn qua điện thoại chứ không còn đi khai thác nữa. “Thừa trong nhà mới ra ngoài đường”, sao tự dưng bỏ việc. Tôi buồn. Không biết nói sao. Nói thật đã dở, nói dối càng dở hơn. Thôi thì nói đại, tại công việc em nhiều quá.
Dạo này chị vẫn đi khai thác thị trường, công việc không thay đổi, nghĩa là chị không bỏ việc như lúc hùng hùng hổ hổ hôm nào. Bởi cái ăn, cái học, cái chi tiêu của hai đứa con vẫn oằn vai chị. Hôm kia, ngồi cà phê ở ABC gian này, thấy gian kia chị đang tư vấn khách về phần trăm những đơn hàng. Hình như cô bé nhân viên mới vừa vô hôm tôi vừa sắp nghỉ, nay đang đi cùng chị. Lại lo, không biết cô bé có là tác nhân làm chị tiếp tục lỗ chuyến hàng như tôi làm không.



Đ.P.T.T (Tây Ninh)




Read more…

ĐI TÌM DẤU TÍCH CHĂM BÊN DÒNG SÔNG CÔN - Tạp bút Vân Phi

14:30 |
              
          Sông Côn là dòng sông lớn nhất của tỉnh Bình Định với chiều dài 171 km, khởi nguồn từ  miền núi phía Tây huyện An Lão và xuôi về đầm Thị Nại. Trải qua những thăng trầm biến đổi nhưng dòng sông Côn vẫn rì rầm sóng biếc, đôi bờ trù phú đã từng một thời chứng kiến những đổi thay thế cuộc.  Từ thượng nguồn về biển lớn, dấu tích ngàn xưa vẫn còn lưu lại, ta đi nhặt những mảnh vỡ thời gian của nền văn hóa Champa (Chăm).
          Từ phía thượng nguồn Tây Sơn, sông Côn chảy qua thị xã An Nhơn giao thủy với một nhánh nhỏ từ hồ Núi Một chảy xuống và chia thành hai nhánh Bắc Phái và Nam Phái ở hạ nguồn. Dòng Côn giang đã tạo nên nguồn cảm hứng để những nhà văn, nhà thơ viết nên những tác phẩm trác tuyệt, sống mãi ngàn đời. Ta đã thấy một “Sông Côn mùa lũ” tỉ mẫn tâm huyết của Nguyễn Mộng Giác, một Chế Lan Viên gào khản những ước vọng về thời vàng son Champa đã quá vãng. Cho dù nền văn hóa Chăm chỉ tồn tại 5 thế kỷ (cùng với sự tồn tại của thành cổ Đồ Bàn – PV) nhưng đã để lại những dấu ấn rất riêng làm nên nét đặc sắc của Bình Định được cả thế giới biết đến. Sau những biến cố lịch sử, có nhiều di tích đã bị phá hủy. Tuy những gì còn sót lại không nhiều nhưng cũng đủ để nhìn nhận lại một nền văn hóa Chăm đặc sắc, gói gọn trong ba chữ “thành, tháp, gốm”.

        Thành cổ chỉ còn những nét hoang sơ
         Các thư tịch cổ và những tác phẩm “Thiên Nam chí lộ đồ thư”; “Lịch triều hiến chương loại chí”; “Đại Nam nhất thống chí”; “Đồ Bàn thành ký”cho biết vùng đất Bình Định xưa có tổng cộng 4 tòa thành cổ, nhưng thực tế hiện tại chỉ còn 3 tòa thành lưu lại dấu tích. Cả 3 tòa thành này đều phân bố dọc theo lưu vực sông Côn và nằm cách nhau từ 10 đến 12 km. Đó là thành Chas (Nhơn Lộc-An Nhơn), thành Đồ Bàn (Nhơn Hậu-An Nhơn) và thành Thị Nại (Phước Hòa-Tuy Phước). Sự có mặt của 3 tòa thành cổ đã phần nào nói lên tầm quan trọng của vùng đất Bình Định dưới thời vương quốc Chăm, đặc biệt là thành Đồ Bàn.
       Năm 982 dưới triều đại vua Yangpuku Vijaya (âm Hán-Việt là Ngô Nhật Hoan?) thành Đồ Bàn được xây dựng. Thành này được các sử gia gọi đúng chức năng của nó là kinh đô Vijaya. Đây cũng là kinh đô cuối cùng của vương quốc Champa, các vua Chăm đã đóng đô ở đây đến thế kỷ XV. 
Từ khi xây dựng kinh đô bên dòng sông Côn đất đai trù phú, đời sống phồn thịnh, dệt vải, điêu khắc mang đậm dấu ấn Chăm, những điệu múa của các thiếu nữ Chăm dưới ngọn lửa đêm trong tiếng chiêng đồng làm say lòng kẻ khác.
Theo dòng lịch sử, sau hơn 3 thế kỷ bỏ hoang, đến cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Nhạc nhà Tây Sơn đã xây dựng thành mới trên nền cũ thành Đồ Bàn để làm kinh đô, lấy tên là thành Hoàng Đế. Năm 1799 quân chúa Nguyễn Phúc Ánh tái chiếm thành Hoàng Đế và đổi tên là thành Bình Định. Sang triều Gia Long năm 1816, nhà vua cho phá bỏ thành Bình Định và chuyển thủ phủ về Quy Nhơn.
          Qua những biến đổi thăng trầm, di tích Đồ Bàn hiện nay chỉ còn sót lại lớp tường lũy bằng đá ong không lành lặn, phía trong thành là lối đi lát đá hoa cương, một thửa giếng vuông, tượng voi đá, và bên cửa hậu là gò Thập Tháp. 

         Tháp cổ Champa –  Hạt ngọc giữa trời
         Tháp là một dạng kiến trúc tôn giáo mang bản sắc rất riêng của dân tộc Chăm, theo các sử liệu thì người Champa đã xây dựng khá nhiều đền đài. Nhưng trải qua những cuộc chiến tranh liên miên, cộng với sự tàn phá của thiên nhiên, con người, cho đến nay trên vùng cư trú xưa của họ chỉ còn lại một số ít dạng kiến trúc đền đài ấy. So với một số địa phương khác trong dải đất miền Trung, Bình Định là một trong những nơi còn để lại khá nhiều dấu tích của nền văn hóa Chăm với 8 cụm di tích tháp trên tổng số 14 tháp phân bố bên đôi bờ sông Côn.
          Tháp Chăm trong Ấn Độ giáo người ta gọi là Sikhara, một dạng kiến trúc tiêu biểu cho đạo Bà-la-môn. Các tháp đều được xây dựng theo một tín ngưỡng thống nhất thờ thần Shiva, một trong tam vị nhất thể của đạo Bà-la-môn. Shiva tượng trưng cho sự sáng tạo và hủy diệt, hai vị thần kia là Visnu tượng trưng cho sự bảo tồn và Brahma tượng trưng cho sự sinh thành, cả ba nằm trong vòng luân chuyển không ngừng. Người Chăm thờ thần Shiva là chính, tín ngưỡng này được kết hợp với tục thờ cúng tổ tiên tạo thành bản sắc riêng trong đời sống tinh thần của họ.
          Kỹ thuật kiến trúc và điêu khắc Chăm cho đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn đối với các nhà nghiên cứu. Làm thế nào để ghép tất cả những viên gạch nâu sẫm một cách chính xác và tinh xảo thành những tháp, tượng hoành tráng đến vậy? Cái gì đã tạo thành sự kết dính của những viên gạch ấy khiến nó có thể đứng vững hơn một ngàn năm nay? Đã có nhiều cuộc khảo nghiệm và hội thảo diễn ra nhưng vẫn chưa có kết luận cuối cùng. Chính điều đó cũng đã gây không ít khó khăn trong quá trình trùng tu và giữ gìn di sản.
          Tồn tại trong 5 thế kỷ, trên vùng đất Bình Định xưa người Champa đã xây biết bao những kiến trúc tôn giáo. Những gì còn sót lại hôm nay chỉ là một phần nhỏ trong những di sản mà người Chăm làm ra. Những tháp Chăm còn lại hôm nay là những viên ngọc quý của nền kiến trúc cổ Việt Nam cũng như văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á. Khi định niên đại cho các tháp Chăm thuộc phong cách Bình Định, các nhà sử học và khảo cổ học đã đưa ra một giả định như sau: Phong cách bắt đầu từ tháp Bánh Ít hay còn gọi là tháp Bạc (nửa đầu thế kỷ XII), tháp Dương Long (đầu thế kỷ XIII), tháp Hưng Thạnh (nửa đầu thế kỷ XII), nở rộ ở các tháp Thủ Thiện, Cánh Tiên (hay tháp Đồng), Phú Lốc (hay tháp Vàng) thuộc thế kỷ XIII.
          Trong đó, tháp Cánh Tiên ở thị xã An Nhơn được xây dựng vào thế kỷ thứ XII, dưới đời vua Chế Mân (Jaya Sinbavarman III). Tương truyền, đây là ngôi tháp Chế Mân dành tặng hoàng hậu Paramecvari tức Huyền Trân công chúa, người con gái Việt cao quý đã đặt quyền lợi dân tộc mình lên trên hết, cùng vua Chế Mân kết mối lương duyên lịch sử.
          Đặc biệt, khi đi qua đoạn cầu Đề Gi (nơi giao nhau giữa quốc lộ 1 và quốc lộ 19 – PV) nhìn về phía Đông - Bắc tầm 500m, ta sẽ thấy chon von những ngọn tháp cao trên đỉnh đồi in nền trên nhánh sông Côn, đó chính là cụm tháp Bánh Ít gồm 4 tháp: tháp Cổng, tháp Hỏa, tháp Bia và tháp Chính. Di tích được xếp hạng vào cấp quốc gia ngày 24/12/1982. Tháp này đã được đưa vào cuốn sách “1.001 công trình kiến trúc phải đến trong cuộc đời” của một nhóm tác giả người Anh. Đây cũng là công trình kiến trúc cổ duy nhất của Việt Nam lọt vào cuốn sách này.
         Cuốn sách là một công trình của nhiều tác giả đến từ nhiều nơi trên thế giới, do cây bút chuyên viết về kiến trúc Mark Irving làm Tổng Chủ biên, Quintessence (Anh) xuất bản, được những giáo sư, kiến trúc sư, nghiên cứu sinh đầu ngành chuyên viết về kiến trúc biên soạn. Trong đó, phần viết về tháp Bánh Ít do Stephen Anthony Murphy, một nhà khảo cổ học từng làm việc tại nhiều quốc gia như Anh, Pháp, Thái Lan, Ireland, Singapore và Nhật Bản, đã nhận bằng Tiến sĩ về khảo cổ học Đông Nam Á tại Trường Nghiên cứu Phương Đông và Châu Phi, Đại học London, Anh, chắp bút. Đây không những là niềm tự hào của người dân Bình Định mà còn là niềm vui lớn của Việt Nam.
         Tuy nhiên, nhìn lại cụm tháp Bánh Ít hiện nay, dù đã qua không ít lần trùng tu sửa chữa nhưng vẫn đang trong tình trạng “chắp vá” theo kiểu xây dựng thông thường bằng… xi măng và gạch nung nguyên khối, làm mất đi vẻ đẹp nguyên sơ của tháp. Mặc khác, nhiều chỗ gạch còn vị vỡ ra, khuyết một mảng lớn trong lòng tháp. Việc lát đá hộp dựng đường để chiếm lĩnh độ cao của tháp, làm xe ô tô cũng có thể lên được đỉnh đồi đã làm “nhòa” đi vẻ huyền bí linh thiêng của tháp cổ. Gần đây, ông Hồ Quốc Dũng, Chủ tịch UBND tỉnh đã trực tiếp khảo sát tháp. Ông nhấn mạnh: “Tháp Bánh Ít là một công trình kiến trúc quý, hiếm, có giá trị nghệ thuật lớn cần được trân trọng, giữ gìn và phát huy xứng tầm. Đồng thời, phải có kế hoạch quảng bá vẻ đẹp của tháp Bánh Ít nói riêng cũng như không gian văn hóa Chăm Bình Định nói chung một cách thật bài bản, hiệu quả”.
        
        Gốm cổ, nét văn hóa tinh xảo của người Chăm (?)
         Các khu lò gốm Bình Định tính đến nay có 5 nhóm. Riêng ở thị xã An Nhơn có đã có 3 nhóm gồm: Gò Sành, Gò Cây Ké, Gò Hời. Tất cả các khu di tích này đều nằm dọc hai bờ sông Côn chảy vào vịnh Thị Nại (cảng Quy Nhơn ngày nay), một vị trí thuận lợi để vận chuyển bằng đường thủy. Trong đó, gốm cổ Gò Sành tại Phụ Quang được các nhà nghiên cứu quan tâm nhất.
        Tháng 3/1974, một đoàn khảo cổ học từ Sài Gòn đã đến Phụ Quang (thuộc Nhơn Hòa, An Nhơn, Bình Định) để tìm hiểu nghiên cứu. Tuy chưa có cuộc khai quật nào nhưng họ đã đưa ra giả thuyết về chủ nhân những đồ gốm nơi đây là người Chăm. Hơn 10 năm sau, dựa vào những hiện vật gốm có nguồn gốc từ Gò Sành trong bộ sưu tập của Hà Thúc Cần, trong luận văn tiến sĩ của mình, Rosana Brown - một chuyên gia nghiên cứu gốm cổ Đông Nam Á đã giành một chương viết về đồ gốm và khu lò gốm Gò Sành. Từ những thông tin trên, Viện khảo cổ học Hà Nội, Bảo tàng Tổng hợp Bình Định đã hoạch định một chương trình nghiên cứu lâu dài tại Gò Sành và toàn bộ di tích gốm cổ trên đất Bình Định.
  Năm 1987-1990, cùng với Viện Khảo cổ học, Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định đã tiến hành điều tra tổng thể các loại hình di tích văn hóa Chămpa, lập hồ sơ khoa học và bản đồ khảo cổ học các di tích phế tích trên địa bàn tỉnh Bình Định.
  Đáng chú ý là từ những năm 1990-1994, Viện Khảo cổ cùng phối hợp với Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định điều tra, khảo sát, khai quật một số địa điểm thuộc trung tâm sản xuất gốm Gò Sành (Nhơn Hòa - An Nhơn - Bình Định) và xác định một số di tích lò gốm khác thuộc An Nhơn và Tây Sơn.
         “Từ cách đây 20 năm, đã có rất nhiều người tìm đến Gò Sành để mua các loại chén, đĩa, bình cũ. Họ sẵn sàng đổi nguyên bộ chén bát mới để lấy một cái đĩa cũ có chạm khắc hoa văn. Nhiều người dân đã bán hoặc đổi, về sau họ mới biết những món đồ cũ kia giá trị hơn nhiều. Dọc bờ sông Côn, vẫn còn nổi lên những mảnh sành sứ đã vỡ. Có người đã nhặt được những cái bát cũ còn nguyên, khi búng ngón tay vào kêu rất thanh”, ông Nguyễn Văn Lâm, chủ của thửa đất khai quật lò Cây Mận chia sẻ.
          Đến năm 1994 bên cạnh các nhà khoa học Việt Nam, có thêm sự hợp tác của các học giả Nhật Bản. Trong số các di chỉ lò đã được xác định ở 5 vị trí thuộc phạm vi vùng Vijaya trước đây, lò Cây Mận, lò Cây Quăng và lò Hời nằm ở khu lò gốm Gò Sành.
        Hiện nay, sản phẩm gốm Gò Sành được lưu giữ khá nhiều trong Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định. Xem xét và nghiên cứu bộ sưu tập này có thể giúp ta hình dung rõ nét hơn về vai trò của di tích khu lò gốm này trong lịch sử. Những sản phẩm được sản xuất ở Gò Sành phần lớn xương có màu xám mực, đỏ nhạt, kỹ thuật giai đoạn sớm dùng con kê, men tráng gần sát đáy, giai đoạn muộn dùng kỹ thuật ve lòng. Men gốm dày đều và màu men không ổn định đã tạo ra một sắc thái riêng cho gốm Gò Sành.
         Những thông tin gần đây cho biết, gốm Gò Sành Bình Định sản xuất ra không chỉ để phục vụ đời sống người Chăm đôi dòng sông Côn mà còn tham gia vào thị trường xuất khẩu sang các nước trong khu vực Đông Nam Á và xa hơn là Ai Cập. Trong số những hiện vật tìm thấy trên con tàu đắm ở quần đảo Calatagan ngoài khơi đảo Pantanan thuộc Philipphines có tới hàng ngàn đồ gốm có xuất xứ Gò Sành.
         Cho đến nay chưa có đủ tư liệu để khẳng định một cách chắc chắn niên khởi đầu cho việc sản xuất đồ sành xứ ở Gò Sành nói riêng và của người Chăm nói chung, nhưng qua những kết quả khai quật khảo cổ tại Gò Sành và ở nước ngoài có thể thấy rằng giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nghề sản xuất sành sứ ở đây nằm trong khoảng thế kỷ XV-XVI. Có một số chuyên gia Việt Nam cho rằng khởi điểm của việc sản xuất gốm Bình Định có thể bắt đầu từ cuối thế kỷ XIII đến thế kỷ XV, chậm lắm là đến thế kỷ XVI.
         Căn cứ vào các tư liệu lịch sử liên quan đến quá trình hình thành và phát triển vùng đất Bình Định, phân tích loại hình các sản phẩm được sản xuất ra, so sánh những mô típ trang trí trên các hiện vật với những tư liệu điều tra dân tộc học có thể đi tới kết luận: chủ nhân lò gốm Gò Sành và các khu lò gốm cổ khác ở Bình Định không ai khác ngoài người Champa cổ.
        Như vậy, gốm cổ kết hợp với kiến trúc xây dựng độc đáo của những ngọn tháp đặc sắc, tinh tế và những vết tích lưu lại của thành cổ Champa đã tạo nên một văn hóa Chăm bên dòng thủy lưu Côn giang sẽ còn lưu truyền mãi đến tận muôn đời./.

V.P (Bình Định)

                                                                                         

Read more…

ĐỒI VẮNG - Truyện ngắn Phan Nam

14:30 |
   
 Ở một nơi khi ho cò gáy này thì có gì mà tìm chứ? Tiếng than thở vang lên trong lòng bà. Bà đang cố đi tìm mấy của sắn rài cho bữa tối, đi tìm trong vô vọng. Một thân hình kham khổ thấy rõ sự nặng nhọc, cố lê đôi chân bà bước đi, bước đi… Vài con cò sải cánh bay trên trời. Cái thời lả lơi ong bướm giờ rã ra trong kí ức. Bà về…
- Con Thơm, thằng Nậu đâu? Sao nhà cửa bề bộn thế này. Tao đang mệt, đừng để tao nổi điên lên nghe, nghe rõ chưa.
Trong nhà một đứa trẻ mặt lem luốc lọ nghẹ trốn sau cánh cửa lắng lặng trước những lời quát mắng của bà. Thằng cu bên hiên có vẻ chững hơn, đang ho sụ sụ, nó đáp tỉnh bơ:
Nhà còn gì nữa mà dọn với dẹp. Mẹ đi đâu về thế?
- Tao đi kiếm ăn chứ đi đâu. Rõ khổ. Cái thằng không cha mà dám nói lại mẹ mày hả. Đi ra quán bà Sáu mua chịu ít gọi mì tôm coi. Tao đói lắm rồi.
Với cái mặt quặp quặp, nó vút chạy qua trước mặt bà. Lấy cái tay lau mấy giọt mồ hôi khi nãy vẫn còn, bà đi vào trong nhà, con Thơm vẫn đứng đó, không một lời nào. Nó nhìn vào xa xăm. Cái nhà trơ trọi trên triền đồi đón gió nhiều hơn, hứng nắng nhiều hơn. Thơm ngước mắt nhìn mẹ, một người đàn bà trung niên với sự già sạm trên khuôn mặt, có lẽ nhan sắc đã xuống cấp, không còn một chút mỡ. Ngôi nhà đong đưa màu u buồn đong đếm những bi kịch không nói thành lời. Dù vậy chỉ duy nhất Thơm được đi học. Thằng Nậu phải bu bám tàu xe kiếm tiền về nuôi cả nhà. Không gì đáng thương. Nhưng có vẻ như Nậu thương em lắm, thế nó mới đủ sức gieo cái chữ cho em nó chớ. Thơm rất thích hoa sim tím, loài hoa gắn chặt với nỗi u buồn trên cái triền đồi hoang vắng này. Mấy tiếng lội bộ xuống thị trấn tìm cái chữ - hoa sim là người bạn duy nhất của nó. Sim bạt ngàn những khung trời nhỏ trong tầm mắt cô bé – sim đưa hồn hoa bay cao trong ước mơ tuổi mộng – sim che chở rẽ đưa những bước chân cho một cuộc hành trình bạc màu thời gian. Những ngày đói, Thơm nếm sim, những quả chín mọng của hoa sim cuối mùa, khắc khoải đợi chờ… Mẹ nó, bà già suốt ngày la mắng, quát nạt nó, bị người đời chửi rủa. Hình như nó hiểu, Thơm vờ như không biết. Nên ba mẹ con phải sống nơi khô khốc cây không mọc nổi này. Một đời “săn” đại gia của bà được kết thúc trong chuỗi ngày u ám, phải giấu thân nơi này. Con Thơm nó lơ mơ biết điều này, biết vì sao nó là Thơm, biết vì sao mẹ nó chửi anh trai nó là “đồ con hoang”. Mẹ nó giờ đáng thương lắm. Nó thương mẹ - trong vô hình - trong hình dung.
 Tối đến, có vài người đàn ông thỉnh thoảng đến thăm bà. Sau vài cái liếc nhìn, vài cái e thẹn, vài cái đẩy đưa tình: lại kéo nhau xuống phố. Mà còn gì nữa mà đưa mà đẩy chứ. Bụi hương đã không còn. Tại sao lại thành ra như thế? Trời biết, đất biết, bà không biết. Bà đã không còn là chính mình, sau những cuộc rong chơi bất tận, bà không còn gì. Đến nỗi hai đứa con thơ dại của bà, bà cũng không biết cha nó là ai. Ở nơi đây hầu hết, đã gia nhập đội ngũ ca ve thì phải chấp nhận như vậy thôi. Bảng lảng đi theo mấy gã trai quen, bà nhậu đến say khướt. Nhục tình đâu còn nữa mà “mờ đèn”. Thành phố sương mờ đẹp đẽ này không có chỗ cho bà, người đàn bà của tội lỗi. Gần - năm – mươi – tuổi – lại – kéo – nhau - vào khách sạn. Bất luận. Bóng đêm cũng từ chối nhìn mặt bà, vũ trụ cũng đẩy bà ra khỏi thực tại… Những chuyến tàu nhanh trôi qua trong sự đau đớn, hoang tàn. Cầm mấy đồng bạc chẵn bà lê đôi chân trần bước về nhà. Cả một đời buôn phấn bán hương cũng đẩy người ta xuống vực thẳm. Cái quá khứ xưa còn khủng khiếp hơn nhiều. Hồi còn cái tuổi như con Thơm bây giờ, bà đã tỏ ra chán đời, thế rồi lại lao vào ăn chơi, khi mà mẹ mình sớm hôn tối hít. Nhanh chóng quăng vở, bà lao vào cuộc chơi. Bà quên mất đời. Mấy con dê trên triền đồi hí hí mỗi chiều làm bà ù tai, đau đớn. Nhưng bà lại như hồ điệp chưa rũ cánh tàn. Không dừng cuộc chơi. Đau đớn bất tận. Hai giờ sáng, bà trở về nhà. Mấy con chó cũng chả thèm sủa lấy một tiếng, bà dụi và ngủ vào như hình nhân rã rời mục nát.

Sáng hôm sau, bà dụi mắt. Nhức nhối hết cả mình mẩy. Bà rặng đứng dậy. Hè rực rỡ, mà như đông chớm tàn. Khói bếp đã thắp lên từ sớm. Có lẽ con Thơm nó nấu cơm ăn đi học lâu rồi. Cũng cái thói liếc ngang liếc dọc bà nhìn quanh nhà. Chật ních. Ngột ngạt. Bà nổi điên. Bất chợt, trên bàn học của con Thơm, những cánh sim phảng phất mùi hương lạ. Hương buồn. Bà lặng lẽ đọc những trang thơ đẫm nước mắt của con – Thơm… Bà đau quá! Bà đau quá! Bà vội chạy ra khỏi nhà, trước mặt bà hoa sim bung nở cả một khung trời vắng. Bà có bao giờ nhìn thấy sim đẹp như vậy đâu? Bà chợt nghĩ đến giấc mơ hoa của đứa con nhỏ. Hèn gì nó thèm được đi học như vậy. Bà gục mặt trên tảng đá trước mặt, tiếng nói của người đời văng vẳng trong tai: “Đồ con đĩ”.

P.N (Quảng Nam)
Read more…

CHIẾC KHĂN MÙ XOA - Truyện ngắn Hương Văn

14:25 |

Đầu giờ chiều, bà Cúc vẫn ngồi như thừa trước cái ti vi màn hình phẳng to tướng trước mặt. Phim tình cảm, ca nhạc trẻ, quảng cáo... thi nhau phát trên các kênh. Bà muốn được xem hát bội, hát cải lương, các ca khúc về cách mạng... mà bật mãi chưa tìm được kênh. Chán quá, bà cất tiếng gọi:
- Thanh, Vinh ơi ! Các con vô bà nhờ chút…
Tiếng í éo của bọn trẻ, tiếng quạt máy vù vù, tiếng ti vi đang phát... át hẳn tiếng gọi của bà. Giọng của bà không đủ vọng ra ngoài cánh cửa sắt đang khép hờ tránh nắng. Thôi khỏi trông chờ các cháu…, bà mệt mỏi nhỏm dậy, tắt ti vi, tìm nước uống rồi húng hắng ho, bước vào giường nằm.                                         
Bà không vào giường thì cũng chẳng biết đi đâu ngoài loanh quanh những căn phòng im ắng. Ra phố một mình không rõ đường chẳng biết bị lạc lúc nào. Bọn trẻ thì chỉ quanh bà được một lúc là lại chạy biến. Muốn làm gì đấy cho phai lãng, nhưng bà đã không thể tìm được việc gì cho ra chuyện. Nhà cửa lúc nào cũng tươm tất, chẳng cần quét dọn. Con dâu lại chưa đi chợ, bà chả biết nấu gì. Bà nằm, thở dài, càng muốn thời gian trôi nhanh thì nó lại đi thật chậm. Bà vắt tay lên trán, nhớ ông!
Không phải bỗng dưng bà nhớ, mà ngay từ lúc bước chân lên đây là bà đã nôn nao trong dạ rồi. Bà cứ tưởng, khi bà gấp quần áo để hù đi chơi nhà con trai là ông sẽ quay vào mà năn nỉ, van vỉ bà. Rõ ràng là ông đã sai, sai rành rành mà không biết lỗi phải. Vậy hỏi làm sao bà không giận? Nhưng tại sao khi bà theo con lên xe, ông vẫn lặng thinh… ?
** *
Ngọn nguồn là từ hôm kia. Ông đang ngồi đọc báo thì tiếng chó sủa vang ngoài cổng. Ông bạn cựu chiến binh sang chơi. Ai cũng mừng rơn! Bà lục đục pha ấm trà ngon, bưng lên với một nải chuối chín vàng. Hai người đàn ông hàn huyên đến sẩm tối. Khách đứng dậy vỗ vào vai ông, giọng sang sảng:
- Lễ  27 tháng 7 năm nay anh em mình nhớ đi đông đủ, có cả cô Chung về dự đấy!
Ông ngớ ra:
- Chung nào nhỉ?
- Cái cô hồi xưa đưa ông chiếc khăn mùi xoa ấy...
Ông “à à…” rồi tiễn khách ra tận cổng, vẻ khoan thai.
Nhưng chân chưa kịp bước lên bậc thềm ông đã bắt gặp khuôn mặt thũng thịu của bà:
- Thì ra xưa nay ông không thực lòng...
Quái lạ! Bà này hôm nay lại trở chứng gì thế? Hơn bốn mươi năm nay, ông có gì không phải với bà, sao bà lại nói thế?
Không để ông mở lời, bà tất tả đi lục lọi một lát. Tay bà run run chìa ra chiếc khăn mùi xoa màu hồng còn rất thơm tho, mắt bà ngân ngấn nước:
- Chữ C này không phải là tên tôi, mà là cô Chung cô chẹc gì thêu lồng vào tên ông, rõ quá thế này mà. Trời đất! Vậy là mấy chục năm qua ông phỉnh tôi.
Chiều tà như kéo thêm mây tới, mặt ông tối sầm. Chiếc khăn bà đang cầm trên tay là kỷ vật thiêng liêng đã luôn theo tình yêu chung thủy của hai người suốt bấy nhiêu năm... Sao bà nỡ tâm thốt ra những câu đau lòng quá...
Nhìn chiếc khăn, cả hai đều lặng lẽ. Quá khứ một thời bỗng kéo nhau ùa về.
***
Hơn bốn mươi năm trước.
Đêm trăng thanh, gió mát. Đêm hiếm hoi vắng tiếng đạn bom. Hai mẹ con đang tát nước ruộng, bỗng từ phía mương chồm lên bóng một người. Mẹ con tá hỏa, nhưng nhận ra anh du kích, họ kịp định thần. Nụ cười lấp lóa ánh trăng. Hiểu lòng con trẻ với những phút giây ngắn ngủi, mẹ về trước. Thả tay gàu, chị cùng anh ngồi bên cạnh khóm dứa dại. Tay chị vân vê tà áo, anh thủ thỉ:
- Sau đợt đánh này, mình cưới nhau, em nhé!.
Cô bẽn lẽn. Chiến tranh mà, ai biết trước được gì đâu...
Cô vừa kịp ngoảnh đầu lên, anh lại mang súng nhanh chân qua con mương đi khuất.      
Quả thật, lời cầu hôn vội trong đêm ấy mãi hơn ba năm sau mới thực hiện được. Cuộc chiến mỗi lúc một cam go hơn và chiến trường miền Nam cần viện trợ sức người, sức của nhiều hơn. Anh chuyển đơn vị, tham gia vào đội thanh niên xung phong, lái xe vận tải trên tuyến đường Trường Sơn. Đó là năm 1972.
Chiến tranh, bom đạn trên tuyến đường khốc liệt ấy luôn rình rập người lính từng giờ, từng phút. Gió bụi đầy người, mặt lấm lem lấm luốc vì máy xe hỏng, vật vã với những lỗ bom chưa được san lấp kỹ... trái tim người lính không còn nghĩ gì khác ngoài miền Nam ruột thịt.
Một hôm đoàn xe đang dừng nghỉ, tiểu đội anh gặp được tổ nữ trinh sát mặt đường. Đội trưởng là chị Bảo, một nữ sinh thành phố đã lên đây được bốn năm. Chị trêu đứa nào có người yêu rồi chị sẽ thêu tặng một chiếc khăn tay. Anh thật thà nhờ chị thêu một chiếc, lồng hai chữ C - H vào trái tim. Ai cũng nhìn về hướng một cô gái và cười ồ. Tuổi trẻ họ hay đùa vì biết chắc C không phải là cô Chung đang ngồi đấy.
Hơn một tháng sau. Xe anh đang đi qua đám khói bỗng thấy cô gái mặc áo xanh, đứng vẫy tay. Cô Chung nói nhanh: “Chị Bảo nhờ em đưa khăn cho anh đây”. Đưa khăn xong cô bước đi còn nhanh hơn lời nói.
Những chiến dịch thắng lợi vẻ vang. Hòa bình. Với người lính, không niềm hạnh phúc nào hơn là được đoàn tụ. Anh từ đơn vị về với thương binh hạng 4, chị còn đợi. Quà tặng chị trong ngày cưới là chiếc khăn tay anh mang bên mình suốt một thời chinh chiến.
***
Lời nói của người bạn khiến cả đêm ông phải phân trần, nhưng vô ích. Bà cứ làm lớn chuyện. Vì bà chẳng hiểu chiến trường bằng ông. Thôi, vài ngày nữa họp mặt, ông sẽ mời đông đủ mọi người về nói chuyện cho rõ ngọn ngành.
Tiếng gà ò o gáy sáng. Mọi khi, bà vẫn dậy trước, rón rén vén mùng đánh thức ông. Nhưng  hôm nay thì khác hẳn. Ông phải dậy trước lúi húi một mình, cố làm bữa sáng cho thật ngon. Xong, ông lấy hai quả trứng gà đánh riêng một tô cháo trứng.
Cháo đã hết bốc hơi. Ông ngồi đợi chưa ăn, lại lăng xăng chạy vào. Bà đã đổi tư thế nằm nhưng vẫn không hé mắt. Ông đưa tay thọc lét, bà giãy nảy, bật dậy, lùng bùng đi rửa mặt. 
Ông bưng tô cháo đi theo, cố làm bà cười:
- Hai con gà mới được một tô, bà ăn đi...
Bà gắt:
- Cháo trứng nguội ngắt, sao ăn?
Giữa họ đang có chiến tranh. Một cuộc chiến không súng đạn, không tiếng gầm rú máy bay nhưng thật nặng nề…
Gần trưa hôm ấy, anh con trai về. Năm nào cũng thế, gần đến 27 tháng 7 là anh lại thu xếp về. 
Thấy con, bà vẫn tươi cười như không có chuyện gì xảy ra. Nắm tay con, nhưng bà lại liếc xéo về phía ông:
- Giỏi nhỉ? Mày về lại không dẫn đứa nào theo, mai mày cho má lên đấy thăm hai đứa...
- Má! Vài ngày nữa là cúng ngoại rồi, lại là ngày của ba. Sao má....
- Ờ! Lên đấy có gì là lạ, má biểu con Hiền dẫn má đi mua, sắm lễ càng tốt chớ sao?
Sáng sớm hôm sau, anh dặn bố có sẵn mấy loại thực phẩm ngon vừa mang về cất trong tủ lạnh. Hai má con lục tục đi.
***
Chiều nay. Bà Cúc vẫn nằm mơ mơ trong phòng. Phải mà giờ này được ở nhà mình ông đã nhờ bà nhổ râu, hoặc cùng nhau tưới mấy luống rau trong vườn...
Nghe có tiếng cô con dâu. Bà nhỏm dậy. Tay cô xách một túi nilon lớn, chứa các hộp thức ăn làm sẵn. Hai đứa nhỏ thấy bố mẹ về, reo lên:
- A! Hôm nay nhà mình lại được ăn cơm sườn nướng.
Thấy con cháu xúm xít bên mâm cơm, bà nghẹn quá không sao nuốt được. Cơm khô rạc khô rời, canh lều phều vài lát khổ qua, thịt nướng toàn vị đường, ngọt quá... Bà mà nấu thế này, ông chê phải biết... Nhưng giờ thì phải cố tỏ ra khen ngon. Bà sợ nhất làm mất lòng con dâu.
Đêm nay là đêm cuối tuần. Anh con trai tất bật đón khách. Bắt đầu rôm rả, những chiếc li cụng nhau lích kích. Cô vợ có dịp khoe với các “bà xã” về chiếc đầm mới mua. Hai đứa cháu đã ngủ khì. Bà vẫn nằm và nằm, tủi thân quá đỗi. Định đi ra nhưng không biết nói năng gì với bọn trẻ, lại thôi. Đúng là với bà, một ngày qua dài hơn cả thế kỷ.
***
 Có chuông điện thoại reo. Bà mở to mắt, hồi hộp đợi. Chắc chắn là ông gọi rồi... Một lát, anh con trai đi vào, bảo với bà:
 - Bộ quần áo thanh niên xung phong của ba bị sổ chỉ, ba nhắn má mai về đem đi may lại, để kịp ngày ba dự lễ.
Cơn giận mấy ngày nay của bà biến đâu mất. Nhưng còn lai lịch chiếc khăn? Thế nào bà cũng phải làm cho ra nhẽ. Thôi, dịp lễ này bà cứ lo cho ông chỉn chu đã, đằng nào cũng mời các anh chị ấy vào nhà. Mà bà cũng đâu có biết cô Chung cô chẹc ngày đó là ai và ở tận đâu đâu. Thật rõ là...

H.V (Bình Định)


Read more…

TA DẠI TA TÌM NƠI VẮNG VẺ (*) - Bút ký Nguyễn Đoan Tuyết

14:30 |



                         





Em nghe chăng mùa thu (**) 

Nơi miền "sơn cốc" vắng

Ly cà phê sóng sánh 

Chờ đón bạn phương xa


       Thế là tôi và một cô bạn nữa đã hẹn nhau tìm về “sơn cốc” của T.L.  một cô bạn ở xứ sở cà phê (chúng tôi đã gọi nơi ở xa cách và vắng vẻ của bạn một cách trìu mến như thế). Chỉ có hiểu nhau như thế nào người ta mới đi thăm nhau mà không ngại tuổi tác và đường xa. Chúng tôi đến nhà T.L. thuộc  huyện Krông Ana, một vùng trọng điểm cà phê của Đắk Lắk, cách thành phố Buôn Mê Thuột gần 30 km vào một buổi chiều nắng nhẹ. Có đến tận nơi này chúng tôi mới thật sự hiểu về cuộc sống của bạn mình ra sao, đúng là “trăm nghe không bằng một thấy”, và lại càng thương bạn nhiều hơn.
          Cả buổi chiều chúng tôi thơ thẩn trên con đường cà phê xanh ngát, trĩu quả, nhìn ngút mắt cũng chỉ thấy cà phê bạt ngàn,  cùng tận hưởng không khí mát mẻ, trong lành.


           Tối hôm ấy có thêm hai bạn nam nữa là Th. và H. vốn là cựu học sinh Pleiku trước 75, một người từ thành phố Ban Mê, một người từ Ninh Hoà- Nha Trang nghe tin người PK về đã vượt đường xa để cùng hội ngộ với chúng tôi. Tình người Pleiku có thể hiện diện bất cứ nơi đâu!
 Không chỉ thế, người dân ở đây còn để lại trong tôi một ấn tượng khó quên. Đó là sẵn lòng giúp đỡ nhau lúc “tối lửa tắt đèn”, nhà TL có cây đu đủ cao khó hái, thấy có người đi qua trước nhà, bạn tôi liền gọi vào nhờ trèo lên hái. Mỗi người của mỗi nhà đều có số điện thoại của nhau để phòng khi có bất trắc xảy ra là gọi nhau cứu giúp. T.L. đã có những người bạn tốt như thế, trong đó nhiệt tình nhất là một cháu trai tên Th- người đã chở tôi đi lại khi còn ở đây. 






          Em có nghe mùa thu (**)

          Tình thu vui rộn rã

          Chuẩn bị mồi tá lả

          Mừng gặp bạn tri âm


   Sau cuộc vui chén tạc chén thù là đến tiết mục văn nghệ “cây nhà lá vườn” hát cho nhau nghe. Tiếng hát như phá tan không gian yên vắng thường ngày và kéo dài đến tận khuya, có lẽ không làm phiền ai vì  tôi nghe cũng có tiếng hát vọng lại từ nhà ai đó trong xóm.

        
        Sáng hôm sau, H. có việc phải về Ninh Hoà (còn Th. đã về Ban Mê trả phép cho bà xã từ đêm qua) những người còn lại đi tham quan thác Dray Nur – một cảnh đẹp nổi tiếng của Daklak. Nếu thác Phú Cường của Gia Lai hùng vĩ về độ cao đến chóng mặt và thường có câu vồng xuất hiện thì thác Dray Nur lại như một bức tường nước trải dài thật ngoạn mục . Tiếc rằng do các công trình thuỷ điện nên đã làm giảm đi vẻ đẹp kỳ thú của dòng thác này.

Tác giả bài viết là người ngồi thứ 2 từ trái sang








        Thác Dray Nur còn hấp dẫn du khách bởi cảnh sắc nơi đây vừa hoang sơ vừa có sự tôn tạo của con người với những bậc thang đá uốn lượn, với cầu treo vắt ngang dòng suối xen giữa các  khóm trúc xanh, với ngôi nhà sàn làm nơi nghỉ chân và uống cà phê hóng mát, ngắm cảnh núi rừng. 


        Trong thoáng chốc, tôi mơ màng nghĩ đến những đêm trăng sáng nơi đây chắc đẹp đến say lòng.

        Đêm cuối, chúng tôi- ba người đều đã lên chức bà, lại cụng ly và cười đùa nghiêng ngả. Chuẩn bị tới 4 chai rượu đủ loại nhưng chỉ để doạ chơi và… chụp hình cho vui thôi. Sau đó, theo yêu cầu của tôi, TL vừa đệm đàn vừa hát bản Serenade để cùng hồi tưởng lại một thời mơ mộng đã đi qua.

        Từ biệt “sơn cốc” thân thương của TL trong sự lưu luyến và mong một ngày nào đó có dịp sẽ quay về.






                 Những ngày vui qua mau

                 Nơi “sơn cốc” đìu hiu

                 Mà Tình Người rực sáng

                 Âm áp tuổi xế chiều 

                 


 Tháng 8- 2015
N.Đ.T (Gia Lai)

(*) Câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm


(**) Dựa ý câu thơ của Lưu Trọng Lư


                                           

        
Read more…

HƯƠNG QUÊ - Truyện ngắn Nguyễn Thị Mây

14:30 |


Phiên cắp chiếc rổ con, chụp cái nón lá cũ của bà nội lên đầu. Bây giờ, trông cô bé như một cây nấm khổng lồ sắp sửa đi hái nấm tí hon.
Phiên chạy ra ngõ, con đường làng quanh co, uốn khúc, rợp bóng tre xanh đưa chân Phiên đến trước một hàng giậu mồng tơi xanh mườn mượt. Nhón chân nhìn vào, Phiên gọi:
- Búp ơi! Có ở nhà không?
Búp chạy ra, chùm tóc buộc đuôi gà lắc lư sau gáy. Cô bé cười khoe chiếc răng khểnh xinh xinh:
- Phiên đi đâu thế?
- Tui đi hái nấm mối, bạn đi không?
- Đi, chờ một chút nhá! Tui vô nhà xin phép ông ngoại.
Lát sau, Búp trở ra với cái giỏ đan bằng nan tre rất xinh. Búp khoe:
- Ngoại mình đan cho nè .Có đẹp không?
Phiên gật đầu:
- Đẹp lắm! Phải chi mình cũng có một cái như thế.
Vừa kéo tay Phiên, Búp vừa hứa hẹn:
- Để rồi Búp sẽ xin ông  một cái giỏ để tặng bạn.
Hai cô bé chạy giữa hai hàng tre rợp mát. Mấy ngày qua mưa dầm. Hôm nay, trời vừa hửng nắng. Cái nắng nhạt như tơ không đủ sức hong khô những giọt nước còn đọng lại trên nghìn chiếc lá. Chốc chốc, cành run, lá chao mình, nước rơi, như cơn mưa lại thoáng qua, Phiên và Búp nhìn nhau cười rộ. Búp kéo những sợi tóc ướt qua môi, nhấm nháp vị ngọt của trời.
Phiên bảo:
- Mình bới chỗ lớp lá kia xem. Ở đó ẩm lại khuất, có thể nấm mối mọc.
Đúng như Phiên đoán. Nấm nhiều vô kể. Chúng mọc chi chít, như những chiếc dù be bé từ dưới đất chui lên, xòe tán rộng, hàng hàng, lớp lớp che mưa nắng cho đất. Nấm chen chúc nhau đội lớp lá mục hoặc xen giữa khoảng trống mà đứng dậy, hít thở không khí trong lành. Phiên hái một chiếc đưa lên. Búp trầm trồ: "Nấm béo ghê!”. Phiên ngạc nhiên lắm. Đất đen vậy mà cây nấm phổng phao, mượt mà như lụa. Dù không to bằng nấm rơm hay nấm mèo nhưng Phiên vẫn thích nấm mối hơn. Nấm mối tự mọc. Không phải mất công trồng trọt gì hết. Mưa đầu mùa đổ xuống, lá vàng rơi chồng chất bấy lâu, mềm nhũn, mục dần. Nấm từ đó sinh ra. Lớn lên, thơm tho đến là thương. Mỗi dịp về quê nghỉ hè, Phiên được sống cạnh bà nội và được đi hái nấm.
Ở đây, Phiên còn được làm quen với Búp. Cô bạn quê mùa nhưng hiền hậu. Hai đứa thường rủ nhau đi hái nấm, câu cá, bắt cua… Có hôm, rổ của Phiên đầy tràn nấm. Cái giỏ tí tẹo của Búp, nấm nhô lên tận miệng vậy mà đất làng vẫn hào phóng phơi ra bao nhiêu là cây nữa. Hai đứa lội xuống ao, hái lá sen để bọc nấm. Vui hết biết . Những ngày ấy, Phiên được ăn món nấm xào ngọt ngào, thơm tho mà còn kiếm được ít tiền nhờ bán số nấm mối còn lại. Số tiền ấy, Phiên dùng để mua trầu cho nội và mua sách tặng Búp, cô bạn nghèo, mồ côi của Phiên.
Nội Phiên kể rằng cảnh  nhà Búp lạ lắm. Ông Búp không vợ không con. Sau một lần chạy trận càn của địch, ông trở về nhà với đứa bé trên tay. Hài nhi nhặt được đó chính là mẹ Búp. Mẹ Búp lớn dần, chưa kịp lấy chồng thì trong một bữa đi chùa đã nhặt dược một đứa bé sơ sinh bị bỏ rơi bên gốc cây bồ đề. Cô mang bé về nhà, gọi là con rồi đặt tên cho nó là Búp. Ai cũng khuyên cô đưa đứa bé vào viện mồ côi để còn lấy chồng. Nhưng cô không nghe theo. Từ đó, Búp sông trong vòng tay yêu thương của mẹ và ông. Nhưng, chẳng bao lâu, mẹ Búp bệnh nặng rồi qua đời. Búp lại mồ côi.
Bây giờ, Búp chỉ còn có ông. Ông yêu thương, quí Búp còn hơn mạng sống. Hai ông cháu nương tựa nhau. Họ rất nghèo. Nhưng đứa trẻ nào ở làng nầy cũng mong có một người ông như thế. Một người hiền và tốt còn hơn bụt. Cây trái trong vườn trẻ nhỏ tha hồ vòi vĩnh, ông cho hết. Chúng cần cái giỏ để chơi trò bán hàng, ông cặm  cụi đan cho. Ở nhà ông, rộn tiếng cười trẻ thơ. Đúng là: "Yêu trẻ, trẻ đến nhà”.  Phiên rất thích đến đó chơi với Búp và được gần gũi ông. Cùng Búp ôn bài, đọc truyện tranh. Hai đứa đua nhau đấm lưng cho  ông, cùng với bọn trẻ trong xóm vây quanh ông, vừa nhìn ông đan rổ vừa lắng nghe ông kể chuyện. Những câu chuyện cổ tích đẹp như mơ. Trong đó bao giờ cũng có những vì vua nhân từ, bà hoàng hậu tốt bụng, cô công chúa xinh đẹp. Họ luôn gặp hoạn nạn nhưng cuối cùng vẫn được bình yên và hạnh phúc. Bao giờ người hiền cũng gặp lành. Ông bảo chắc chắn như thế.
Có một lần Phiên hỏi ông:
- Tại sao ông hiền thế kia mà ông có sung sướng gì đâu?
Ông cười, xoa đầu Phiên:
- Tội nghiệp! Cháu tưởng ông khổ sao?
Phiên gật đầu. Ông bật cười:
- Đâu, cháu thử kể ra xem ông khổ chỗ nào!
Phiên mím môi, ngẫm nghĩ  rồi nói:
- Nhà ông lụp xụp nè, áo ông rách vai nè, ông ăn cơm ít thức ăn nè, ông không có con cái nè.
Ông lại  cười:
Vậy mà là khổ sao cháu! Nhà thấp cũng đủ để che mưa, che nắng. Áo rách thì kệ… áo rách, mặc vào mát mẻ. Còn thức ăn ít cũng có sao đâu, ông vẫn sống nhăn nè. Không có con cái  nhưng có các cháu, có láng giềng. Sướng hay khổ do minh nghĩ thôi cháu à. Lớn lên cháu sẽ hiểu rõ hơn lời ông nói
Phiên nhìn ra khoảnh sân ngập nắng. Búp và các bạn đang ùa vào nhà, tiếng cười trong trẻo vang lên rộn rã. Phiên ngẩn người. Hình như mình nghĩ sai rồi. Ở đây vui quá!

N.T.M (Trà Vinh)
                                                                                                                        


Read more…