Trang Văn Thơ Việt Nam

HOA PHONG LAN - Truyện ngắn Châu Thạch

14:41 |


Quân tắt máy ủi, nhảy xuống đất, khoan thai đứng nhìn cảnh vật. Chàng đã hoàn thành công tác mở đường đi lên địa điểm xây bể áp lực cho công trình thủy điện.
  Quân đốt một điếu thuốc rồi đưa mắt nhìn bao quát. Trên cao, một con suối tuôn qua năm tầng  ào ào đổ xuống rồi dừng lại chảy lặng lờ  dưới chân ngọn núi chàng đang đứng. Dưới mắt chàng, nơi mà dòng suối chảy yên bình, hai bên bờ toàn cây cổ thụ với vô vàn hoa phong lan bám trên cành.
    Trời gần trưa, ánh nắng chiếu trên ngàn hoa rực rỡ, dòng suối trong xanh phản chiếu ánh mặt trời lấp lánh ngàn sao thu hút chàng. Quân men theo vách núi đi xuống. Đến gần con suối, Quân ngây ngất với vẻ đẹp thiên nhiên mà chàng chưa từng thấy suốt quãng đời lặn lội núi rừng với nghề san ủi của mình. Ở chỗ chàng đứng, một cây cổ thụ soi mình trên dòng nước, trên các cành của nó, đủ các loại phong lan bám đầy và khoe màu rực rỡ. Một chùm phong lan to nhất nép mình trên thân cây, buông thõng những cánh hoa mỏng manh theo gió, soi mình dưới lòng suối phẳng lặng như tấm gương lửng lờ trôi. Nhìn xuống nước, đột nhiên Quân thấy như có một khuôn mặt đẹp tuyệt trần ẩn hiện trong bóng hoa. Chàng nghe phảng phất đâu đây một mùi hương thơm diệu kỳ. Chàng đặt mình nằm xuống  bên gốc cây, gối đầu trên cỏ và ngủ một giấc say sưa.
  Những ngày kế tiếp Quân san ủi mặt bằng xây bể áp lực gần đó. Mỗi buổi trưa, chàng xuống đây ngồi chờ chị nuôi đem cơm đến, ăn xong là đặt mình xuống ngủ ngon lành. Những khi phải làm đêm cho kịp tiến độ công trường, đêm nào có trăng Quân thường leo xuống đây trong giờ nghĩ giải lao. Chàng nằm dưới gốc cây nhìn chùm hoa phong lan tắm mình trong ánh sáng chị Hằng, lung linh trăm cánh hoa huyền ảo.
   Một đêm như thế Quân đã gặp một người con gái dân tộc. Nàng trạc 17, 18 tuổi, từ bên kia bờ suối lội qua. Quân trố mắt ngạc nhiên, tưởng như có một nàng tiên xuất hiện. Chàng không thấy sợ cô gái, mặc dầu ngày hôm sau, khi chàng kể lại thì nhiều người dọa rằng chàng đã gặp ma lai. Quân hỏi cô gái:
- Đi đâu mà đêm khuya lội qua suối vậy?
- Em đi hái nấm.
- Sao lại hái nấm ban đêm?
- Vì ban đêm nấm vừa nhú lên còn ngon ngọt, để đến sáng thì búp nấm sẽ nở to ra, mất bớt đi hương vị.
- Đi khuya thế không sợ sao?
- Sợ gì? Nhà em ở đây mà.
- Quanh đây không có bản làng nào, vậy nhà em ở đâu?
Cô gái nhìn quanh rồi vừa cười vừa chỉ tay lên cây:
- Nhà em trên cây nầy, chỗ chấn ba đó.
-Vậy em là hoa phong lan?

- Dạ, em là hoa phong lan
- Xạo
 Quân đưa tay cùng đỡ chiếc gùi mây trên vai cô gái xuống. Cô gái lấy trong gùi ra mấy ống cơm lam, một bầu rượu Tà- Vạt và mời chàng cùng ăn. Đã quen với tánh tình chất phác và hiếu khách của đồng bào dân tộc, Quân không từ chối và hai người ngồi ăn dưới trăng, bên dòng suối, trong gió thoảng mùi hương phong lan ngào ngạt. Từ đó hai người thân nhau, thường gặp nhau để cùng ăn trưa hoặc ăn tối trong những đêm có trăng mà Quân phải làm tăng ca. Thế rồi hai người yêu nhau. Nàng không cần biết thân thế chàng và chàng cũng chẳng cần biết bản làng nàng ở đâu, vì cả hai đều ngầm hiểu cuộc tình của họ sẽ có ngày phải chia ly.
  Một hôm, Ban quản lý công trình điều về thêm sáu chiếc máy ủi. Hôm sau, mỗi bên ba chiếc máy ủi, họ bắt đầu khởi công mở đường hai bên bờ suối. Đồng thời dọc theo cạnh đường, họ khai hoang thêm một vùng rộng lớn để xây dựng nông trường. Khi máy ủi đến điểm hẹn tình yêu của Quân, cổ thụ tróc gốc, chùm phong lan bị dập nát dưới thân cây. Quân buồn lắm, chàng gỡ chùm phong lan đem về chỗ ở chăm sóc thật là chu đáo, nhưng phong lan rụng hoa héo lá và khô đi từng ngày. Kể từ đó cô gái người dân tộc cũng biệt tích luôn. Quân tìm đến các bản làng ở quanh công trường để hỏi thăm tin tức về nàng, nhưng không một ai biết.
 Rồi nhiệm vụ hết, Quân được cơ quan điều về thành phố. Quân đem theo chùm phong lan khô héo với kỷ niệm êm ái của mối tình về cùng chàng. Đêm đêm Quân vẫn thường ngồi ngắm chùm hoa nhớ nàng và để cho lòng mình tơ tưởng xa xôi.
  Một đêm nàng đến với Quân. Nàng hiện ra như mơ như thật. Nàng vẫn đẹp như xưa nhưng ánh mắt buồn vô hạn. Nàng khóc và nói với chàng:
- Em chính là chùm hoa phong lan mà anh đã yêu mến và giữ gìn đến nay. Cả họ hàng nhà em đã chết khi rừng hoa bị tàn phá. Rừng sẽ trả thù. Rừng sẽ giấu nước về mùa khô nhưng lại trút nước về mùa mưa bão. Rừng sẽ tàn phá gấp trăm ngàn lần những chiếc máy ủi kia. Sẽ có một ngày loài người  không còn một chỗ để lại dấu chân. Ngày ấy không xa vì rừng đã báo trước cho con người biết bao nhiêu là dấu hiệu. Loài người đã tàn ác giết cây là tự hủy hoại mình. Em đến lần cuối đễ vĩnh biệt  chàng nhưng tình chúng ta còn vĩnh viễn, vì chàng với những người yêu cây là thân thuộc của rừng,  họ sẽ có linh hồn cùng chúng em tươi xanh và trường tồn mãi mãi.
Nàng đi rồi Quân ngồi khóc. Chàng thương cho những đỉnh núi trọc, những khu rừng cháy, những con suối đục ngầu hay khô cạn nước, và loài thú hoang thật sự đi hoang vì không có mái nhà xanh để ở. Từ đó Quân ấp ủ mối tình thanh tao và thi vị mà chàng gọi là “Mối tình hoa” đến suốt đời.

C.T (Đà Nẵng)





Read more…

NGHIÊNG GẦN ĐI EM -MỘT MÌNH QUA PHỐ - Thơ Châu Thạch

15:00 |



NGHIÊNG GẦN ĐI EM


Khi em nghiêng xuống bên anh
Bình yên mặt đất, an lành trời đêm.

Nghiêng gần chút nữa đi em
Cho mùi hương tóc thơm mềm bay lên
Và anh muôn sự bỏ quên
Mặc cho nhân thế buồn tênh giữa đời
Nghiêng gần chút nữa em ơi
Lời yêu như sóng chơi vơi thầm thì
Cái sầu ngủ dưới bờ mi
Vùi say một giấc lâm ly mộng tình.

Nghiêng gần nữa mắt em xinh
Cho anh hôn đóa môi trinh ngọt ngào
Nghiêng gần để thấy má đào
Đằng sau suối tóc trăng sao đầy trời
Nghiêng gần cho tiếng à ơi
Nhọc nhằn anh trút theo lời em ru
Tương lai trong cõi sa mù
Hoa xuân nở đẹp, trăng thu rạng màu.

Nghiêng gần để nỗi thương đau
Từ trong quá khứ trôi vào hư vô
Một đời anh những xô bồ
Giờ trăng yên lặng mặt hồ bình yên
Nghiêng cho giây phút mơ tiên
Anh bay phiêu lãng đến  miền tình yêu.

Ước chi mai mốt xế chiều
Em còn nghiêng chốn cô liêu anh nằm.



MỘT MÌNH QUA PHỐ



Một mình qua phố nửa đêm
Đường khuya vắng lặng, nhớ em quá chừng
Nỗi sầu trong mắt rưng rưng
Sương rơi giăng lạnh ngập ngừng sầu nghiêng

Ngước lên thấy cõi ưu phiền
Trời xanh như đọng một miền lệ sao
Đường xưa lối cũ đi vào
Hương xưa còn thoảng ngọt ngào tình xưa

Một thời đi đón về đưa
Lầu cao cửa sổ vẫn chưa then cài
Chỉ không còn nữa mắt ai
Nhìn theo nghiêng cả đường dài về khuya

Kể từ tình rẽ duyên chia
Nhà xưa, cổng cũ thành bia dựng buồn
Xe hoa từ độ đi luôn
Gót ta mòn mỏi qua truông tháng ngày

Đường khuya đổi ngắn thành dài
Hồn khuya lạnh giá đã mài con tim
Nửa đời bảy nổi ba chìm
Nửa đời lận đận đi tìm nửa kia

Vẫn là tình rẽ duyên chia
Chỉ con đường vắng về khuya vẫn còn
Chỉ mình ta với héo hon
Mình ta qua phố hao mòn ngày xuân.

C.T (Đà Nẵng)



Read more…

ĐỌC “THÁNG CỦA MÙA”, THƠ VŨ MIÊN THẢO - Bài của Châu Thạch

15:00 |


THÁNG CỦA MÙA

 Tháng của mùa lá gọi mưa bay
nắng giấu bóng chiều trong chéo áo
đường ướt mặt nên em rưng mắt bão
nhá nhem nỗi buồn tia chớp cong mi

Tháng của mùa tê tê ngón gầy
nhăn vân thâm không tay ai nắm
cứ những giọt thu lay phay chạm
chỗ không anh... môi đắng niềm đau!

Tháng của mùa nên ta không nhau
hạnh phúc trốn sau chòm mây xám
trăng không bóng chỗ anh ngồi lại trống
đêm mùa vàng thêm chút nữa… xanh xao

Tháng của mùa sao lại nghe nao nao!
lối xưa người sẽ về son gót mới
hồn đã cũ cớ gì ta cứ đợi!?
một vụn tình! Ai bảo chẳng hư hao?!

10-2014
Vũ Miên Thảo



Vế một của bài thơ:

Tháng của mùa lá gọi mưa bay
nắng giấu bóng chiều trong chéo áo
đường ướt mặt nên em rưng mắt bão
nhá nhem nỗi buồn tia chớp cong mi

“Tháng của mùa” là tháng mấy khó biết được, nhưng theo tôi thì  “lá gọi mưa bay” vì lá thiếu nước nên mới phải cần mưa. Thiếu nước lá phải vàng. Hơn nữa, “mưa bay” nên đường chỉ “ướt mặt”  chứ không sủng nước thường là về mùa thu. Vậy là nhà thơ ám chỉ, đến tháng của mùa thu rồi (Mùa của lá vàng và mưa bay).
“Nắng giấu bóng chiều trong chéo áo”, nghĩa là bóng chiều chỉ là những vết nhỏ nhoi, một chéo áo cũng che vừa hết, nên không gian đã sắp tối rồi. Ở câu thứ tư, tác giả dùng chữ “nhá nhem nỗi buồn”cũng có một phần ám chỉ đến không gian, thời gian lúc ấy sắp về đêm.
“Mắt bão” là tâm bão (vùng giữa các cơn lốc xoáy của bão). Mắt bão là một khu vực hầu như lặng gió, nơi yên bình nhất của cơn bão, thậm chí có khi trời quang mây tạnh, có thể thấy trăng sao vào buổi tối.“Nhá nhem nỗi buồn” là nỗi buồn của em cũng làm cho bầu trời sụp xuống như tối nhá nhem, nhưng khi em liếc nhìn thì vành mi cong chẳng khác gì tia chớp loé lên.  
Hai câu thơ đầu ám chỉ thời gian, không gian. Hai câu thơ sau ám chỉ mắt em. Cả bốn câu thơ hoà nhập mắt em trong mùa thu, nhưng không phải của một mùa thu bình yên, cũng không phải một mùa thu có bão tố. Vậy đó là mùa thu gì? Trả lời: – Mùa thu trong mắt em. Mùa thu ngoài trời bình yên chỉ có mưa bay, nhưng mùa thu trong mắt em đã hình thành một cơn bão tố. Cơn bão tố đến rồi, nhưng mắt em là tâm bão nên rờn rợn trong sự yên bình. Bốn câu thơ, mỗi câu vẽ nên những hình ảnh theo trường phái lập thể, trừu tượng... Lập thể vì nắng là chéo áo, con mắt ở trong bão, rèm mi ở trong tia chớp. Trừu tượng vì lấy mùa thu làm tâm trạng của em và lấy nỗi buồn của em làm một mùa thu khác lạ. Trong tác phẩm của họa sỹ lập thể, đối tượng được mổ xẻ, phân tích và được kết hợp lại trong một hình thức trừu tượng. Người họa sỹ không quan sát đối tượng ở một góc nhìn cố định, nhưng phân chia thành nhiều mặt khác nhau, nhiều khía cạnh khác nhau. Thông thường các bề mặt, các mặt phẳng giao với nhau không theo các quy tắc phối cảnh, làm cho người xem khó nhận ra chiều sâu của bức tranh, nhưng khi đã nhận ra sẽ thấy được giá trị nghệ thuật cao của nó. Ở bốn câu thơ nầy, hình ảnh và tâm trạng được cắt thành nhiều mảng, gắn bên nhau, liền cạnh nhau khiến cho bức tranh mưa, nắng, đường và mắt kết hợp lại, để diễn tả cái chiều sâu thẳm của mùa thu và nỗi buồn của em trừu tượng.  
Qua vế thứ hai, tác giả đem mùa thu vào cả trong bàn tay em và để nỗi buồn em chạy trong đường máu:

Tháng của mùa tê tê ngón gầy
Nhăn vân thâm không tay ai nắm
cứ những giọt thu lay phay chạm
chổ không anh… môi đắng niềm đau!

Thời tiết làm cho em tê tê ngón tay chăng? Không phải đâu. Nỗi buồn đã làm cho em tê ngón tay. Vì sao vậy? Vì “nhăn vân thâm không tay ai nắm” nghĩa là những vân tay trên bàn tay em chằng chịt, làm cho bàn tay em nhăn và thâm đen vì chẳng có ai cầm. Từ đó, em nghe ngón tay mình tê tê và hao gầy.
Theo khoa tử vi, đường vân tay em nhăn quá, thể hiện đường đời em gian truân biết bao.  
Em đi trong mưa, giọt thu chạm khắp mình em. Cứ chỗ nào “không anh” thì giọt thu chạm vào làm “môi đắng niềm đau”.Vậy là cả thể xác em đau? Thật ra, thể xác em không đau mà chính linh hồn em đau; đau đến độ đường gân, thớ thịt cũng đau theo.
Vũ Miên Thảo lấy cái đau của thể xác diễn tả nỗi đau tình cảm trong lòng. Nỗi đau đó rưng rưng từng thớ thịt, nhưng chính xác ra, nó đang gặm nhấm tâm tư của nàng. Vế thơ trên cho thấy, cơn đau trùm lên bóng chiều nhá nhem, vế thơ nầy cho ta hiểu cơn đau thu vào nội tâm, chạy trong đường máu, biểu hiện nỗi cô đơn cùng tận, chỉ một mình nàng gánh chịu.
Qua vế thơ thứ ba, tác giả đưa cái vu vơ của sự “không nhau” và bây giờ mới thấy có nột chút gì gió trăng trong cuộc tình:

Tháng của mùa nên ta không nhau
hạnh phúc trốn sau chòm mây xám
trăng không bóng chỗ anh ngồi lại trống
đêm mùa vàng thêm chút nữa xanh xao

À! Bây giờ mới vỡ lẽ ra, hai vế thơ trên chàng đã mang giùm tâm trạng đau buồn và than thở cho em. Ở hai vế thơ sau, chàng mới than thở cho chính mình.
“Tháng của mùa nên ta không nhau”. Câu thơ thể hiện đường tình bị chia cắt do đường đời làm đứt đoạn. Và họ vẫn yêu, vẫn chia đau khổ cho nhau, nhưng ngã rẽ cuộc đời buộc phải xa cách. Nàng đi trong trời nhá nhem, chàng ngồi trong bóng tối trống rỗng, xanh xao. Hai bức tranh buồn phát hoạ hai hình ảnh cô đơn, luỹ thừa sự trống vắng, xanh xao, đơn độc và phân rẽ tăng lên.
Qua vế thơ chót, tác giả đã nói lên sự dằn vặt trong tâm tư chàng. Chàng nói những điều ngược lại với lòng mình, như tự vỗ về nỗi đau đang cấu xé:

Tháng của mùa sao lại nghe nao nao!
lối xưa sẽ về son gót mới
hồn đã cũ cớ gì ta cứ đợi!?
một vụn tình! Ai bảo chẳng hư hao?!

Dấu than và dấu hỏi đánh liên tục trong vế thơ nầy, chứng tỏ sự bấn loạn trong tâm hồn tác giả. Tiếng kêu đau đớn xuất hiện trong dấu than, rồi sự thắc mắc vì sao phải đau xuất hiện trong dấu hỏi và ngược lại. Tác giả không bao giờ giải đáp được cho mình. Đó là tâm trạng của những loài yêu bằng trái tim không bằng lý trí.
Vũ Miên Thảo yêu bằng trái tim mình, một trái tim mang chung hai nỗi đau của cả hai người. Tác giả đau cho nàng trước, rồi đau cho mình sau. Muốn quên mà dễ đâu quên được, muốn xem sự hư hao là lẽ thường mà nào đâu làm được: “hồn đã cũ cớ gì ta cứ đợi!/một vụn tình! Ai bảo chẳng hư hao?!”

Thơ Vũ Miên Thảo là thế. Một thứ thơ như những bức tranh lập thể, chuyển các đối tượng ba chiều vào trong một mặt phẳng tranh, tạo thành tổng các thời khắc riêng biệt và góc nhìn khác nhau, được nhìn thấy bằng đôi mắt tâm trí. Vì vậy, đọc thơ Vũ Miên Thảo ta không những chỉ thấy cái hay bằng những gì ta hiểu mà ta còn thấy cái hay bằng những ý tứ xa vời, trừu tượng ngoài tầm hiểu biết của ta mà ta chỉ cảm nhận được./.

C.T
                                                 
Read more…

TÌNH SAY CỦA KHA TIỆM LY LÀ NIỀM ĐAU THI VỊ - Bài của Châu Thạch

15:00 |

 Tình Say           
 ( Gởi HTH)      

Ta bước chân đi vương sợi tóc
Đủ làm choáng váng giấc mê say
Tàn đêm rượu cạn bao nhiêu cốc
Mà ảnh người, như khói thuốc bay!

Réo rắt đàn xưa cung lỗi nhịp
Bâng khuâng hồ rượu biết vơi đầy?
Ta thèm một chút hương thừa cũ
Sao cứ mơ màng như bóng mây?

Phật thệ khói sương mờ bốn nẻo
Huyền Trân nào lạc bước nơi đây!
Bồng bềnh tóc rối bời năm cũ
Mãi quyện hồn ta bao ngất ngây!

Rượu đắng lung linh mờ dáng ngọc
Cho ngàn đêm nhớ, với đêm nay./.

Kha Tiệm Ly
                           



Tôi thích cái ngông trong thơ Kha Tiệm Ly, tôi lại càng yêu cái say trong thơ Kha Tiệm Ly. Tác giả nầy ngông thì ngông hết cỡ mà say cũng say quá cỡ, có điều cái ngông trong thơ Kha Tiệm Ly không trịch thượng với đời mà nhu mì thật là dễ thương, còn cái say trong thơ Kha Tiệm Ly là cái say rất êm ái và thú vị.
          Đọc bài thơ Tình Say của Kha Tiệm Ly hiển thị trên trang web datdung.com và đọc tiếp những lời bình luận của bạn đọc ở phía dưới tôi tâm đắc vô cùng:
Với Thiên Thu: Đọc xong thấy mình say
Với Toàn Phong: Thơ Kha tiên sinh có cái gì “xưa xưa” làm người đọc thấy ấm lòng, êm ái.
Với Sơn Lâm: Nó lãng mạn vô cùng, trộn vào chất giang hồ lãng tử.
Với Châu Thạch tôi: Tình Say là niềm đau thi vị.
Thật thế, với bốn câu thơ đầu tác giả đã đưa ta vào  một cơn say ảo dịu, ảo dịu vì cái mong manh của sợi tóc trong thơ cũng đủ làm cho “chếnh choáng giữa mê say”, ảo dịu vì uống cạn bao nhiêu cốc không phải để ngả nghiêng la hét mà để thấy “ảnh người như khói thuốc bay”. Trong “Tình Say”, tác giả uống để  say vì tình và tình say ấy biến thành lời thơ đầy thi vị:
Ta bước chân đi vương sợi tóc
 Đủ làm chếnh choáng giấc mê say
Tàn đêm rượu cạn bao nhiêu cốc
Mà ảnh người, như khói thuốc bay!
Chỉ một sợi tóc mà tác giả đưa vào đủ diễn đạt đỉnh cơn say trở thành êm ái và nâng bốn câu thơ lên thành tuyệt mỹ. Không có sợi tóc bốn câu thơ nầy vẫn hay, nhưng có sợi tóc bốn câu thơ nầy được đưa vào một thế giới mong manh, mong manh như mối tình sầu, như giấc mê mà tác giả đang đắm đuối  thương nhớ với ngàn ly rượu cạn. Thế rồi “ảnh người như khói  thuốc bay” là thứ ảo ảnh trong cơn say đưa cả khung cảnh vào một cơn mơ xa rời hiện thực, mà đó cũng là nỗi đau trong tâm hồn tác giả. Nhà thơ Hàn Mặc Tử ngày xưa, cứ mỗi mùa trăng thì hình như ông thoát xác ra thành hai người. Một là Hàn Mặc Tử thể xác vô cùng đau đớn vì bệnh phung hành hạ. Một là Hàn Mặc Tử linh hồn bay lên cao cùng với trăng sao mây nước dạo chơi miền trong sáng vô biên. Kha Tiệm Ly thì khác, hình như cũng hóa thành hai người trong cơn say, nhưng một người bằng thể xác thì khoái cảm với ngàn ly rượu cạn, một người bằng linh hồn thì hứng chịu nỗi đau tình. Phải biết rằng chính nỗi đau tình đó đã làm tác giả vấp sợi tóc chứ không phải vì rượu kia đâu.
          Qua bốn câu thơ kế, rượu vẫn tiếp tục uống đến độ không biết được vơi đầy, và khi cơn say càng lên cao độ  thì tai nghe được điệu đàn quá khứ, mũi ngửi được mùi hương thơm dĩ vãng. Ở vế một chỉ có thị giác tiếp xúc với quá khứ, qua vế hai thì nhiều giác quan được đến với thế giới quá khứ yêu thương:
Réo rắt đàn xưa cung lỗi nhịp
Băng khuâng hồ rượu biết vơi đầy?
Ta thèm một chút hương thừa cũ
Sao cứ mơ màng như bóng mây?
Những cung bậc của mối tình xưa càng réo rắt thì rượu lại cứ vơi đầy, và rượu cứ tiếp tục vơi đầy đễ tìm lại chút hương xưa. Men tình, men rượu biến thành men đau khổ cho nên “Ta thèm một chút hương thừa cũ. Sao cứ mơ màng như bóng mây?”. Men tình, men rượu, men đau hòa quyện trong cơn say, làm tê cứng thịt da đến nỗi uống  ly cạn ly đầy không biết và đưa linh hồn tác giả trôi vào miền ảo ảnh mơ màng.
Rồi thì cơn say lên đến cực độ, ảo ảnh hiện ra rõ ràng hơn nữa, và chính ở cao điểm đó, tác giả hoang tưởng đến kinh đô nước Chàm và gặp cả Huyền Trân công chúa:
Phật thệ khói sương mờ bốn nẻo
Huyền Trân nào lạc bước vào đây
Bồng bềnh tóc rối bời năm cũ
Mãi quyện hồn ta bao ngất ngây!
Cho dẫu trong hoang tưởng tác giả đi vào Phật thệ gặp Huyền Trân công chúa, hay tác giả gặp lại chính người mình yêu được hóa thân vào trí tưởng tượng của thi nhân thì cũng không sao, vì cả hai đã bị đồng hóa vào nhau trong cơn say của tác giả. Bốn câu thơ ở khổ nầy làm bài thơ trở nên “xưa xưa” như Toàn Phong đã nói vì đưa tâm tư người đọc quay về vùng thánh địa cổ xưa, khiến cho bài thơ có vẻ gì huyền bí.
          Uống rượu nhiều đến thế, nhiều đến nổi sinh ra hoang tưởng nhưng rất nhầm nếu cho rằng tác giả đã say bê bết, say không còn lý trí. Không đâu, ta hãy nghe tác giả bình tĩnh vô cùng với hai câu thơ cuối:
Rượu đắng lung linh mờ dáng ngọc
Cho ngàn đêm nhớ, với đêm nay.
Thật ra tác giả mượn rượu để giải sầu, nhưng rượu càng uống sầu càng dâng cao. Với tửu lượng luu linh như thế, nếu không có cơn sầu thì cơn say không bao giờ đến đỉnh như đầu đề bài thơ cho ta thấy, “Tình Say” chứ đâu phải rượu say, nên ở đây bao nhiêu ảo ảnh hiện ra không phải vì rượu mà chính vì nỗi khắc khỏai nhớ thương, nỗi thèm nhớ hương tình yêu ngày cũ.
“Tình Say” là một bài thơ buồn da diết, bày tỏ một nỗi đau sâu kín và triền miên, nhưng lại đưa người đọc phiêu du linh hồn mình vào cõi say, cõi mộng, cõi huyền sử. “Tình Say” có âm điệu trầm, trầm đến độ con người lắng xuống một cõi yên tĩnh, đầy ảo ảnh, đầy mộng mơ và lạ thay khi đồng cảm với niềm đau đó thì thấy hồn ta đầy tình yêu, đây hương thơ thi vị./.

C.T 
Read more…

ĐỌC "TRÊN BỤC GIẢNG MÙA XUÂN" CỦA LA THỤY - Tạp bút Châu Thạch

13:30 |


                    Trên bục giảng mùa xuân - Thơ La Thụy
                                        
                   Tơ xuân nhè nhẹ rải
                    Lộc biếc khẽ đâm chồi
                    Đất trời nghe phơi phới
                    Hoa xuân hé nụ cười

                    Sương thu bao lần trải
                    Áo trắng sắc không phai
                    Một đời yêu phấn trắng
                    Thân thương tiếng giảng bài

                     Nhặt cỏ vườn hoa bé
                     Nâng niu từng nụ hồng
                     Nhựa xuân rung se sẽ
                     Mộng hồn bay lâng lâng

                     Sắc hoa cùng thắm rộ
                     Ủ hương đầy bâng khuâng
                     Thì thầm tia nắng cựa
                     Nguồn thơ chợt trào dâng.

                         (L.T)

  

                             
         Cầm tập “Thơ đời ngân vọng” của La Thuỵ gởi tặng trên tay, tôi nghĩ mình sẽ viết cảm nhận cho tập thơ nầy. Lướt qua tập thơ mỏng chỉ vỏn vẹn có 45 bài thơ, tôi thấy trang đầu có lời tựa của nhà thơ Kha Tiệm Ly, trang cuối có lời bạt của nhà thơ Nguyễn Khôi. Về hai nhà thơ này thì những gì tôi cảm nhận được chắc họ đã nói hết rồi. Vậy thì tôi sẽ viết cho một bài mà tôi yêu mến trong tập thơ nầy vậy. Chọn bài thơ ấy không khó vì mở tập thơ ra nó đã là bài thơ đầu tiên: “Trên bục giảng mùa xuân”.
        Hãy bàn qua vế đầu của bài thơ:

                    Tơ xuân nhè nhẹ rải
                    Lộc biếc khẽ đâm chồi
                    Đất trời nghe phơi phới
                    Hoa xuân hé nụ cười

       Đây chỉ là một vế thơ tả mùa xuân đang đến như bao nhiêu bài thơ xuân khác. Thế nhưng người đọc vế thơ nầy sẽ cảm nhận được có cái gì quí hơn, đẹp hơn và cao trọng hơn chứa đựng trong mùa xuân đang đến. Đó là nhờ vế thơ nằm trong chủ đề  “Trên bục giảng”. À, té ra tác giả đang đứng trên bục giảng giữa mùa xuân nghĩa là đang làm một việc cao trọng nên việc làm ấy tăng thêm ý nghĩa cho thơ. Thế nhưng chưa phải đâu. Nghĩ kỹ hơn ta thấy tác giả còn nói đến mùa xuân đang về với một ý nghĩa khác. Mùa xuân mà tác giả tả với tơ xuân, với lộc biếc, với phơi phới, với hoa hé nụ  là mùa xuân của tuổi trẻ, của thế hệ học trò. Những cảm nhận mùa xuân nầy tác giả đã thụ hưởng ngay trên bục giảng và cảm nhận ý nghĩa đó từ sự phơi phới xuân của học trò ngồi dưới kia hướng mắt lên thầy. Từ đó ta thấy trong bốn câu thơ mở đầu tác giả chỉ mượn hình ảnh xuân của đất trời để mô tả một mùa xuân khác, mùa xuân của tuổi học trò mà tác giả là người đang chăm sóc. Tơ xuân, lộc biếc, hoa xuân ở đây còn thể hiện mầm tri thức phát triển trong những chiếc đầu, những thân thể bé bỏng đang lớn lên kia. Suốt đời tác giả đứng trên bục giảng nên hưởng được xuân ở trong cả bốn mùa, vì xuân ấy từ lớp lớp tuổi thơ như tơ xuân, như lộc biếc, như hoa xuân vây bọc quanh thầy.       
        Thế nhưng qua vế hai của bài thơ, có một sự thật phũ phàng trên cuộc đời làm thầy:

                    Sương thu bao lần trải
                    Áo trắng sắc không phai
                    Một đời yêu phấn trắng
                    Thân thương tiếng giảng bài

       Vậy là nhà thơ chỉ hưởng thụ mùa xuân khi đứng trên bục giảng, còn cuộc đời thầy không phải là mùa xuân đâu. Cuộc đời thầy chỉ như mùa thu, mà lại chỉ là những ngày thu có sương lạnh lẽo. Mùa thu là mùa lãng mạn nhất trong năm. Vậy có phải tác giả muốn nói đời của người thầy lãng mạn hay không? Phải, đúng thế. Đời của người thầy đẹp và lãng mạn nhất nhưng chỉ về phương diện tinh thần, còn phần vật chất thì “sương thu bao lần đã trải” giống như thầy phải mang chiếc áo trắng mong manh đi trong sương thu suốt cả bốn mùa và suốt qua nhiều năm tháng. Tuy thế vì yêu thương quá đỗi cái thì giờ đứng trên “Bục giảng mùa xuân” mà thầy đã “Áo trắng sắc không phai”, hy sinh cho sự nghiệp trồng người.
        Vì thứ tình yêu đó, vì sự nghiệp đó mà thầy đã:

                     Nhặt cỏ vườn hoa bé
                     Nâng niu từng nụ hồng
                     Nhựa xuân rung se sẽ
                     Mộng hồn bay lâng lâng

       “Vườn hoa bé” tượng trưng cho những ngôi trường, những lớp học mà thầy đã trải qua. “Nụ hồng” tượng trưng cho học trò bé bỏng mà thầy đã cưu mang và “Nhựa xuân, Mộng hồn” là sức sống đang vươn lên của lớp lớp học trò mà thầy giảng dạy. Vế thơ nầy cũng chỉ nói đến công việc của một người trồng hoa nhưng ẩn ý chứa trong thơ như những cánh thiên thần và sực nức hương thơm. Hương thơm trong thơ được toả ra từ những từ ngữ bình dị nhưng có tiềm năng truyền cảm cho ta cảm thụ hết tất cả vẻ đẹp thanh cao, tinh khiết, cao thượng của người trồng cây nhân tính cho đời.
         Và tất cả tháng ngày thầy đứng trên bục giảng, tất cả tháng ngày thầy mặc áo trắng mỏng manh đi trong phong sương đời thầy là những tháng ngày thầy cặm cụi khai phá cho nguồn thơ trào dâng giữa cuộc đời:

                     Sắc hoa cùng thắm rộ
                     Ủ hương đầy bâng khuâng
                     Thì thầm tia nắng cựa
                     Nguồn thơ chợt trào dâng

          Đây là thành quả của người thầy qua hình ảnh của người làm vườn. Hoa, hương, nắng đã biến thành thơ trào dâng là kết quả của tháng ngày chăm bón. Từ đó, kết quả của thầy giữa cuộc đời cũng sẽ biến thành thơ, hay nói đúng hơn thầy quan niệm một đời thầy trồng người là một đời hy sinh cho thơ. Vậy thơ ở đây có nghĩa rộng vô cùng, đó là những gì ta đem vào đời, bồi đắp cho đời, khiến đời trở nên tươi đẹp .

          Thơ cũng có hồn. Hồn thơ do người thi sĩ hà hơi vào. Đọc thơ có hồn ta cảm nhận ngay được cái hay không cần lý luận. Bình thơ chẳng qua là nhận xét văn chương vòng vo bên ngoài, còn nhận biết cái hay của thơ thì qua linh cảm của chính mình và của từng người. Thơ La Thuỵ với tôi là thơ có hồn, cái hồn đó nhận từ hơi thở trong con tim, lá phổi người sáng tác, nó sẽ sống và sống lâu dài vì chủ nhân nó vừa là nhà giáo vừa là nhà thơ như bao nhiêu nhà giáo cũng là nhà thơ khác, nó thấm thía biết bao bởi tâm hồn họ đẹp như hoa bướm, cao trọng như tượng đài và lung linh giữa ngàn sao lấp lánh. Ngàn sao đó chính là học trò của họ, do bàn tay họ đã truyền cho tri thức và đưa tri thức ấy vào đời./.

C.T (Đà Nẵng)

                                                             

             
Read more…

HƯ MỘNG - Thơ Châu Thạch

14:00 |


Trong giấc ngủ con tim ta thắt lại

Mơ thấy em biền biệt giữa cuộc đời

Phố của ảo, những ngày xưa hiện đó

Tìm không ra dấu tích của một thời!



Ta bươn bả giữa quách thành sụp đổ

Nhà em xưa ẩn hiện ở trong sương

Những ngã tư không phải của con đường

Ta đã đợi, đón em thời thơ cũ!



Trường trong mơ gạch màu tro ủ rũ

Hai hàng cây sa nước mắt song song

Ta bước đi quay quắt ở trong lòng

Tà áo trắng vật vờ bay trong gió.



Ngó qua sông bên kia màu khói đỏ

Bãi Nhan Biều biến mất nhưng loài cây

Mờ in trong tâm thức mộ cao dày

Ôi thánh giá và hoa sen thần thoại!



Em đâu đó, còn đây trong khắc khoải

Ta lạc loài quên, nhớ lẫn vào nhau

Chỉ biết mình đang ở giữa thương đau

Đau như thể quả tim nầy tan nát.



Và hư, thực đêm dằn co thể xác

Hồn hao mòn đuổi theo bóng lung lay

Có ai kia cấu xé thịt da nầy

Ta tỉnh giấc xót xa nguồn hư mộng!

                                 

 CT (Đà Nẵng)
Read more…