Trang Văn Thơ Việt Nam

"Ngợm người" trong thơ Thái Quốc Mưu – Bài viết Châu Thạch (Đà Nẵng)

00:50 |
Với bọn “ngợm người” nầy nhà thơ Thái Quốc Mưu cho rằng đã hết thuốc chửa rồi, cho nên ông chẳng cần nhắn nhủ khuyên lơn, dạy bảo gì họ cả, mà chỉ lắc đầu bỏ đi, buông ra cho chúng một câu để nhớ đời: Chớ tưởng quyền uy thay trí óc/ Đừng hòng sỏi đá hoá trân châu.  
 
Thông tin cá nhân: (VanDanViet)   
Tác giả Châu Thạch   
Tên thật: Trương Văn Trạn   
Quê: Quảng Nam   
Chỗ ở hiên nay: 75 Phan Kế Bính, TP. Đà Nẵng   
Điện thoại: 0511.3894610   
_____    
   
“NGỢM NGƯỜI” TRONG THƠ THÁI QUỐC MƯU  
  
    Nếu ai hỏi tôi nhà thơ Thái Quốc Mưu yêu gì và ghét gì nhất, chắc có lẽ tôi không trả lời được điều yêu nhất, nhưng điều ghét nhất của Thái Quốc Mưu thì qua thơ ông quá rõ ràng.
    Trong bài thơ khóc Nguyệt Lãng, một trong những người bạn thơ thân nhất của Thái Quốc Mưu, nhà thơ đã khuyên người quá cố đừng trở lại trần gian chẳng phải vì trần gian là chốn sinh, lão, bệnh, tử hay điều gì khác mà chỉ vì trần gian là chốn có nhiều “ngợm người”: 
          Đừng nên trở lại nơi trần thế 
          Một cõi quanh anh lắm ngợm người 
                                      (Khóc Nguyệt Lãng) 
    Trong một lần “Viếng Trời” nhà thơ cũng so sánh sự khác biệt đáng kể nhất giữa cõi trời và cõi người mà cõi người có lắm “ngợm người”:
          Nước trời trên dưới cùng tôn quý 
          Khác với nhân gian lắm ngợm người 
                                                   (Viếng Trời)
    Vậy “ngợm người” là gì?
    Thật ra chữ “ngợm người” không tìm ra một định nghĩa chính xác. Tự điển Việt Nam có sách định nghĩa: “ngợm người” là người ngu dại”; có sách định nghĩa: “ngợm người” là người, với ý nghĩa xấu nói chung”. Lại có người cho chữ “ngợm” phát xuất từ chữ “ngựa” nên chữ “ngợm người” là, “nửa ngựa nửa người, nghĩa là người không ra người mà ngựa chẳng ra ngựa”. Cũng có giải thích “ngợm người” như sau: “Ngợm là gì?- Ngợm cũng đi bằng hai chân, mặc quần áo, mang hia, đội mão, có trí tuệ, có tiếng nói, ăn từ thượng vàng hạ cám đến cao lương mỹ vị xuống bắp luộc khoai nướng nhưng khác con người ở chỗ, con người có thể ăn được đủ thứ nhưng không bao giờ ăn thịt đồng loại, còn ngợm thì đến thịt đồng loại cũng sẵn sàng ăn sống nuốt tươi” (Tất nhiên người mà ăn thịt người chỉ nói theo nghĩa ngụ ý mà thôi).
    Như thế chữ “ngợm người” cũng như chữ “chó má”. “Con chó có thể ăn bẩn nhưng dứt khoát không ăn thịt đồng loại, còn con má về hình thức giống y như con chó nhưng đến thịt đồng loại cũng không từ! Có người nghĩ rằng, “ngợm người” là lũ người “điên” cần phải đi học. Học gì? - Học làm người, học để biết thiên chức của con người”. 
    Xem như thế “ngợm người” hay “người ngợm” quả nhiên không phải người tốt. 
    Tóm lại, “ngợm người” để chỉ những kẻ có hình thể, vóc dáng của con người, nhưng cách sống với đồng loại, chưa đạt được cái bản chất đích thực của CON NGƯỜI, mà tôi đã đọc trong mục danh ngôn đâu đó câu: “Hãy sống sao cho người ra NGƯỜI” của Thái tiên sinh. 
    Ngoài ra, trong bài thơ Niềm Mơ Ước Vĩ Đại Của Tôi, Thái Quốc Mưu đã viết: 
          Mặc ai mơ nước Thiên Đàng 
          Mặc ai mơ cõi Niết Bàn xa xôi 
          Tôi sinh ra giữa Đất, Trời. 
          Chỉ mong làm được CON NGƯỜI – viết hoa. 
    Theo Thái Quốc Mưu thì giống động vật mang tên người, khi được “Viết hoa” thành CON NGƯỜI thì vô cùng khó khăn, lớn lao, vĩ đại, và cao quý hơn tất cả. Nó nằm trên tất cả những ước mơ – kể cả Thiên Đàng hoặc Niết Bàn. Bởi, khi tất cả giống người biết tu thân để trở thành CON NGƯỜI được viết hoa, thì xã hội lúc đó đa số chỉ có những CON NGƯỜI đích thực là NGƯỜI. Họ toàn là bậc chính nhân quân tử, lương thiện, gắn bó yêu thương,... thì Thiên Đàng hoặc Niết Bàn đã hiện hữu giữa trần đời, chẳng phải tìm đâu xa. Khi ấy, lũ “ngợm người” không còn đất dung thân, chẳng thể tồn tại. Sẽ tự diệt. 
    Bây giờ qua thơ Thái Quốc Mưu ta thử tìm xem những thành phần nào trong xã hội mà nhà thơ ghét nhất? Câu trả lời, chính xác nhất, đó là lũ “ngợm người”. 
    Trong bài thơ “Trên Chót Đỉnh” Thái Quốc Mưu đứng trên núi nhìn xuống “đời”, ông đã thấy “lắm lũ loài”. Ông dùng chữ ‘lũ loài” chứng tỏ ông rất ghét hạng người nầy, đó là hạng người tranh bả lợi danh, giựt dành lợi lộc làm mất cái nhân tính đích thực của CON NGƯỜI: 
          Ngó xuống. Ôi chao lắm lũ loài 
          Tranh chấp bả danh nhân tính mất 
          Giựt dành lợi lộc hận thù sôi 
                                      (Trên chót Đỉnh) 
    Cái bọn người mà bả danh vọng và lợi lộc đã làm cho họ sôi máu hận thù, mất đi nhân tính đó, đã được nhà thơ gọi đích danh trong bài thơ “Khác Biệt” của ông: 
          Quan tham đầu óc như “lì đỗn”
          Chỉ biết thu gom với nhét vào 
                                         (Khác biệt) 
    Đọc ngược hai chữ đóng trong ngoặc kép ta thấy Thái Quốc Mưu khinh bọn quan tham đến cỡ nào. Và với Thái Quốc Mưu bọn người ấy không những là phường phi đạo đức, bất tài, bất nhân, bất nghĩa, tham lam vô tận, lừa bịp, thất học, ngô nghê trước quần chúng; vậy mà hay lếu láo khoe khoang, vênh váo,... ăn trên, ngồi tróc để lèo lái mọi việc chẳng khác nào như bác tài vừa dỡ lại ba hoa: 
          Đạo đức trống không hay lếu láo 
          Chân tài rỗng toác cứ thày lay
                           (Có những bác tài) 
    Nhà thơ Thái Quốc Mưu không tiếc lời giận dữ điểm mặt bọn người xấu xa trên với lời lẽ vô cùng cay cú:
          Hôm sớm đem đầu ra đội đít
          Trưa chiều gục mặt để chờ khi
          Cong lưng đổi miếng mồi danh lợi 
          Ngậm miệng ăn ba cái bã chì
                                          (Vịnh ông Táo)
    Và cuối cùng Thái Quốc Mưu không còn nể nang gì nữa và thẳng tay chỉ vào mặt bọn người mà ông ghét nhất trên trần gian nầy, công bố, vạch trần tội lỗi xấu xa nhơ nhuốt của họ, lũ “ngợm người” mà từ xưa đến nay thời nào cũng có:
          Quan ôn xưa nay
          Phẩm chất kém - cần sơn, phết, xi 
          Bằng cao. dốt rặt mới ly kỳ 
          Văn thư nguệch ngoạc run cầy sấy 
          Chữ ký loằng ngoằng méo miệng ghi
          Quán nhậu nghênh ngang tuồng hổ, sói
          Cửa quyền hống hách tựa tần, phi
          Gặp thời chồn cáo vươn nanh vuốt
          Sớm tối vênh vênh cái mặt chì. 
    Vậy qua thơ ta biết thứ mà nhà thơ ghét nhất trên đời là ai vậy? 
    Tất nhiên không phải là những người mang chữ “ngợm” với nghĩa xấu bình thường. Tất nhiên, đó không phải là người ngu dại; tất nhiên không phải người khuyết tật, người phạm tội hình sự, kẻ vô tình, vô tâm... Nói chung tất cả những người bị cho là “người xấu” đó, đều không phải thứ “ngợm người” mà Thái Quốc Mưu muốn đề cập. Thái Quốc Mưu nói thẳng lũ ngợm người ấy chính là những kẻ ngồi ở ghế quan lại trên cao mà kém tài, thất đức, bám danh hưởng lợi,... 
    Qua thơ Thái Quốc Mưu, bọn “ngợm người” là bọn “Quan ôn” vô lại. Bọn đó làm cho nhà thơ Thái Quốc Mưu chán chê thế gian nầy đến nỗi ông đã nhắn với người bạn thơ tri âm của mình: 
          “Nhớ bút hãy đùa cùng trăng gió 
          Thèm thơ xin nhắn cái thằng tôi
    nhưng,  
          “Đừng nên trở lại nơi trần thế
          Một cõi quanh anh lắm ngợm người”.
    Với bọn “ngợm người” nầy nhà thơ Thái Quốc Mưu cho rằng đã hết thuốc chửa rồi, cho nên ông chẳng cần nhắn nhủ khuyên lơn, dạy bảo gì họ cả, mà chỉ lắc đầu bỏ đi, buông ra cho chúng một câu để nhớ đời:
          Chớ tưởng quyền uy thay trí óc
          Đừng hòng sỏi đá hoá trân châu
                                                (Biển Đời)  
© Tác giả giữ bản quyền.  
. Cập nhật theo nguyên bản của tác gửi từ Đà Nẵng ngày 26/08/2015  
Xin Vui Lòng Ghi Rõ nguồn VanDanViet Khi Trích Đăng Lại.  
_______________________________________________    
   




Read more…

Phạm Khang: Một vài cảm nhận về tập thơ “Hương thời gian” của Trịnh Huyền Đào

19:29 |
Trịnh Huyền Đào – người ở đất Thọ Trường, Thọ Xuân. Miền quê có con sông Chu trải ra đôi bờ phù sa mía dâu, ngô bãi, khoai mật, bánh gai, nem chua có tiếng trong Nam ngoài Bắc của xứ Thanh. Từ nhà ông vào hương Lam Sơn không mấy xa. Dư âm trận mạc, hội thề Lũng Nhai thuở nào của Bình Định Vương Lê Lợi và các bề tôi còn nôn nao, ngây ngất và tự hào, vang vọng nơi hồn thơ của ông.  
 
Thông tin cá nhân: (VanDanViet)       
Tác giả Nhà thơ Phạm Khang    
Họ tên thật Phạm Xuân Khang   
Hội viên Hội VHNT Thanh Hóa.     
 đã xuất bản 9 tập thơ, 4 tiểu thuyêt, 1 tập ký sự.      
Học văn tại Nga. Dịch giả văn học thế giới.      
ĐT: 0122.220.69.89     
_____     
  
MỘT VÀI CẢM NHẬN VỀ TẬP THƠ “HƯƠNG THỜI GIAN” 
                                                     CỦA TRỊNH HUYỀN ĐÀO  

    Trịnh Huyền Đào – người ở đất Thọ Trường, Thọ Xuân. Miền quê có con sông Chu trải ra đôi bờ phù sa mía dâu, ngô bãi, khoai mật, bánh gai, nem chua có tiếng trong Nam ngoài Bắc của xứ Thanh. Từ nhà ông vào hương Lam Sơn không mấy xa. Dư âm trận mạc, hội thề Lũng Nhai thuở nào của Bình Định Vương Lê Lợi và các bề tôi còn nôn nao, ngây ngất và tự hào, vang vọng nơi hồn thơ của ông. Trịnh Huyền Đào là bạn vong niên, tôi thường hay ghé nhà chơi cờ và đàm đạo. Đều là những người du học ở nước ngoài, ông ở Trung Quốc, tôi ở Nga nên dễ thành tri kỷ cũng là lẽ thường ở đời. Trước khi sang Trung Quốc học đại học ông đã có nhiều năm lăn lộn, xông pha nơi hòn tên mũi đạn ở chiến trường Miền Nam trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước. Bên Trung Quốc ông học cơ khí đóng tàu, về làm kỹ sư nhiều năm ở các nhà máy đóng tàu từ Thái Nguyên đến Sông Cấm, cuối đời về cảng Lễ Môn – Thanh Hóa. Cứ tưởng trong đầu ông chỉ có bản vẽ kỹ thuật, những con số liên miên ma trận, những dự án; cái thành công, cái xếp xó, cái cho vào sọt rác về các con tàu trên sông ngoài biển…nào ngờ ông còn có thứ vũ khí bí mật… đó là…Thơ! Thơ của Trịnh Huyền Đào câu chữ không làm duyên làm dáng, lòe loẹt, màu mè, đồng bóng, nhạt nhẽo như thói đời thường có. Đó là một thứ thơ được viết ra từ những trải nghiệm miên man, thao thiết của đời người. Sự từng trải và chiêm nghiệm nhiều khi đã vắt kiệt ngữ nghĩa, hồn vía câu chữ trong thơ ông.Thơ ấy đương nhiên là thơ đáng đọc và được bạn bè trong văn giới tôn trọng. Vừa mới đây, bạn bè động viên mãi ông mới cho công bố tập thơ “Hương thời gian” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành.
    Tôi nhận thấy ở “Hương thời gian” có miền ký ức thao thiết như sóng lòng những nhớ thương, những trăn trở, khuôn mặt người thân yêu, câu ca dao, dòng sông, bến nước, con đò…nơi tác giả đã lớn lên, ra đi và trở về khi mái đầu đã bạc với biết bao buồn vui, hạnh phúc, cay đắng và cả những mất mát, khổ đau. “Hương thời gian” như một định mệnh nghiệt ngã của số phận, ở đó người làm thơ thấy mình nhân hậu hơn, trách nhiệm hơn với cuộc đời này. Bằng cách ấy và không thể khác được, tác giả đã trình bày quan niệm nhân sinh của mình qua những con chữ lặng lẽ, thâm trầm, những tứ thơ đẹp có sức lay động, hàm chứa sự quan sát tinh tế, tươi tắn như chưa hề biết đến tuổi tác của đời người. Thơ vốn không có tuổi. Hồn thơ neo đậu vào cuộc sống như chưa bao giờ chán nản. Có lẽ cũng từ nguyên cớ này mà thơ của Trịnh Huyền Đào rất trẻ; ngôn ngữ dẫn đường cho ý tưởng mọc mầm, bài thơ gọn gàng như khuôn nhạc ru tình là vậy.
    “Hương thời gian” là tập thơ thứ hai sau “Tình lặng” của Trịnh Huyền Đào. Bút lực như vậy là không xoàng. In được hai tập thơ vào cái buổi tóc đã hoa cà, hoa cải là cả một sự cố gắng như không thể cố gắng hơn được nữa. Hình như Trịnh Huyền Đào phó thác phận mình, tình yêu của mình cho thơ vậy:
Nghiệp thơ một chút đa mang
Vui buồn thơ vẫn tình tang tang tình.
                                    (Với thơ)
    Chỗ khác, ông lại có cách nói về thơ hóm hỉnh và dễ thương:
            Chuồn chuồn chao theo gió
           Anh mãi gọi… Thơ… Thơ.
                                                (Mãi gọi Thơ Thơ)   
    Đa mang thì khổ. Thơ không đa mang là thơ nhạt. Người làm thơ đau đời, đau cho phận người khác, đau cái nhiều khi không phải của mình đâu phải là sự lạ. Nếu có lạ đó là sự vô cảm của cái không thiện tâm, của cái ác. Trịnh Huyền Đào có hẳn một chân trời quê hương yêu dấu trong thơ. Đây là nguyên cốt của thơ ông. Hình ảnh người mẹ tần tảo, một đời gian khó ; người dì nhan sắc, dịu hiền nhưng bạc phận; cây cầu Hạnh Phúc nơi đầu huyện; người bạn hy sinh nơi chiến trận không về; những cô thanh niên xung phong ở Truông Bồn…là những chấm phá, đoản khúc, lát cắt đẹp của đời sống có hồn, ru người ở lại với niềm thương cảm, biết ơn:
Mẹ vẫn đứng mặc gió trời chải tóc
Bạc mây chiều thức dậy tuổi đôi mươi
                                          (Mẹ)
Dòng sông thác lũ cồn lên
Dì gieo mình trả nợ duyên cho người
(Dì tôi).
    Trịnh Huyền Đào có những bài thơ thấm đẫm kỷ niệm yêu thương, dẫn ta về với miền quê bên bờ sông Chu trong dịu ngọt đợi chờ. “Người ấy” xứng đáng được tôn vinh là bài thơ hay trong dòng thơ tình đương đại.
                        Người ấy ra sông gánh nước
                        Lối mòn nghiêng theo triền đê
                        Người ấy màu da bánh mật
                        Ngang vai đợi mái tóc thề

Người ấy nhà ở ven đê
                        Mùa về giăng giăng hoa vải
                        Ngày xuân tôi sang bên ấy
                        Hương thơm, thơm cả lối về

                        Gửi người ở bến sông quê
                        Tôi đi lỡ hẹn ngày về
                        Người ấy lên đê đứng đợi
                        Gió tung rối mái tóc thề

                        Nhặt vội thời gian thăm quê
                        Vườn nhà vải vừa độ chín
                        Người ấy cùng tôi qua đê
                        Đường về rắc đầy hoa tím
    Tôi không biết nàng là ai. Và ông cũng không chịu kể cho tôi nghe về lai lịch của nàng. Tôi chỉ biết một điều chắc chắn rằng, nàng sẽ trẻ mãi, trong trắng mãi, đợi chờ mãi…từ buổi ông còn là chàng trai trẻ với khát vọng yêu đương bùng cháy cho đến tận hôm nay mái đầu của nhà thơ đã bạc. Và tôi cũng dám chắc rằng, cái người có mái tóc thề ở bến sông quê ấy, cùng với hoa vải, hương vải, vườn vải sẽ là khúc niệm tình day dứt khôn nguôi, không lụi tàn nơi tâm hồn luôn mất ngủ của ông về một thời đáng sống!
    Là kẻ đầu xanh, kém ông đến hàng chục tuổi. Gặp nhau một chén cười vang phố. Thơ thành món nhắm những lúc nhạt lòng. Viết đôi lời cho tập thơ, mừng cho ông, chúc ông như ý và viết khỏe.
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gửi từ Thanh Hóa ngày 21.8.2015
Xin Vui Lòng Ghi Rõ nguồn VanDanViet Khi Trích Đăng Lại.
_______________________________________________
  





Read more…

Bây giờ phố đã thay làng - Ts.Nguyễn Đình Nguộc cảm nhận bài thơ “Cảm lời giếng nước” của NKhôi

08:47 |
Đọc bài thơ “Cảm lời giếng nước” của Nhà thơ Nguyễn Khôi ta cảm thấy một nỗi buồn man mác nhung nhớ cảnh yên bình của làng quê xưa với cây đa, giếng nước, sân đình... cùng với những tập quán quen thuộc đã in đậm vào tâm trí của những người con xa quê lâu lâu mới trở về làng. Cùng với sự phát triển của đất nước, mỗi vùng quê cũng đang từng ngày đổi mới theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn. Đặc biệt những vùng ngoại thành phố, thị xã quá trình đô thi hóa đến chóng mặt. Những thôn, xã xưa giờ đây đã lên phố, lên phường... nên:  
 
Thông tin cá nhân: (VanDanViet)    
Tác giả Nguyễn Khôi   
Bút danh Khôi Đình Bảng   
Quê gốc Làng Đình Bảng Bắc Ninh, Hiện sống và viết ở Hà Nội.   
_____   
            
BÂY GIỜ PHỐ ĐÃ THAY LÀNG
          Cảm nhận bài thơ “Cảm lời giếng nước”   

CẢM LỜI GIẾNG NƯỚC
          (Thơ Nguyễn Khôi Tặng BNN)
Còn đâu giếng nước trong veo
Đêm trăng soi bóng người yêu thuở nào
Giếng đá Ong, nước ngọt ngào
Trưa hè mát họng, thì thào lời thương
Cây đa xòa bóng bên đường
Dừng chân về chợ, tan trường ríu ran...

Bây giờ phố đã thay làng
Rào rào nước máy giếng khoan xả vòi
Nồng hơi hóa chất tanh tươi
Chè pha nước máy sặc mùi nồng hăng!

Bây giờ đã lấp giếng làng
“Gốc đa”? –đã có “Nhà hàng” mọc lên
Mấy cô váy ngắn “tiếp viên”
Mắt xanh, mỏ đỏ hoắng lên kéo mời...

Tôi về... chẳng phải “làng tôi”?
Người xưa đã tít phương trời biệt ly
Trưa hè bật nắp “La Vie”
Thôi thì “ừng ực”... mấy khi về làng?!

Giếng xưa thả ánh trăng vàng
Chỉ còn trong lúc mơ màng nhớ quê.
                                  Quê, 15-8-2015 
                         Tác giả Nguyễn Khôi 
Lời bình
    Đọc bài thơ “Cảm lời giếng nước” của Nhà thơ Nguyễn Khôi ta cảm thấy một nỗi buồn man mác nhung nhớ cảnh yên bình của làng quê xưa với cây đa, giếng nước, sân đình... cùng với những tập quán quen thuộc đã in đậm vào tâm trí của những người con xa quê lâu lâu mới trở về làng. Cùng với sự phát triển của đất nước, mỗi vùng quê cũng đang từng ngày đổi mới theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn. Đặc biệt những vùng ngoại thành phố, thị xã quá trình đô thi hóa đến chóng mặt. Những thôn, xã xưa giờ đây đã lên phố, lên phường... nên:
          “Còn đâu giếng nước trong veo
          Đêm trăng soi bóng người yêu thuở nào
          Giếng đá Ong, nước ngọt ngào
          Trưa hè mát họng, thì thào lời thương
          Cây đa xòa bóng bên đường
          Dừng chân về chợ, tan trường ríu ran...”
    Những đổi thay nơi quê nhà làm cho ta không thể nhận ra làng xóm thân yêu thuở xưa của mình nữa. Bao kỷ niệm ngọt ngào, thân thương mỗi khi về quê ta mong được gặp lại đâu còn? Người con của quê hương lâu ngày mới về quê không thể hình dung được sự đổi thay đến ngỡ ngàng của xóm làng, thảng thốt kêu lên đầy luyến tiếc:“Còn đâu giếng nước trong veo/ Đêm trăng soi bóng người yêu thuở nào”. Cái giếng đá Ong nước trong veo hãm chè xanh ngon mắt, ngon môi, uống vào vừa ngọt, vừa thơm ... đâu còn nữa. Cả cây đa cổ thụ xòa bóng bên đường che mát những trưa hè mỗi khi bà con đi chợ về dừng chân ngồi nghỉ đón làn gió trời bay hết những giọt mồ hôi cũng không còn. Nơi gốc đa già vẫn còn lưu mãi trong ký ức của bao thế hệ học trò mỗi khi tan trường về “ríu ran” nô đùa một thuở nay đã trở thành kỷ niệm...
          “Bây giờ phố đã thay làng
          Rào rào nước máy giếng khoan xả vòi
          Nồng hơi hóa chất tanh tươi
          Chè pha nước máy sặc mùi nồng hăng!”
    Khi đô thị hóa “bây giờ phố đã thay làng”, xã đã lên phường, nhà tầng đang thay thế những ngôi nhà mái ngói, mái tranh năm xưa. Đặc biệt là các sản phẩm công nghiệp hiện đại đã đi vào cuộc sống của người nông dân như điện đường thay ánh trăng vàng, quạt máy, ti vi, tủ lạnh, điện thoại, nước máy... không ít gia đình đã lắp điều hòa không khí. Dân số ngày càng tăng do phát triển tự nhiên và tăng cơ học- những người ở nơi khác chuyển đến sinh sống nên nước “giếng đá Ong” năm xưa không còn đủ dùng nữa, phải dùng “nước máy giếng khoan” mặc dù có “nồng hơi hóa chất tanh tươi”. Những người đã từng nghiện nước chè xanh nấu từ nước giếng đá Ong năm xưa nay đành chấp nhận “chè pha nước máy sặc mùi nồng hăng!” bởi vì:
    “Bây giờ đã lấp giếng làng“Gốc đa”? –đã có “Nhà hàng” mọc lên”. Khi đô thị hóa, những cơn sốt đất liên tiếp làm cho giá đất cứ tăng lên vùn vụt. Câu thành ngữ: “tấc đất- tấc vàng” ngày xưa nay trở thành tấc đất- nhiều tấc vàng. Giếng làng đã bị lấp để mở rộng đường, để làm nhà. Cây đa bên đường cũng không còn nữa mà “đã có “Nhà hàng” mọc lên”. Cơ chế thị trường như một làn gió mới thổi về miền thôn quê êm ả bao đời nay làm thay đổi đến chóng mặt có nhiều  cái được, tích cực nhưng cũng có không ít tiêu cực, mất mát không dễ gì lấy lại được.
    “Mấy cô váy ngắn “tiếp viên”/ Mắt xanh, mỏ đỏ hoắng lên kéo mời...” Những chuẩn mực của nếp sống văn hóa trước đây cũng không thể giữ được trước trào lưu hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng; trước cơ chế thị trường cạnh tranh khắc nghiệt với nhưng qui luật của nó.
          “Tôi về... chẳng phải “làng tôi”?
          Người xưa đã tít phương trời biệt ly
          Trưa hè bật nắp “La Vie” 
          Thôi thì “ừng ực”... mấy khi về làng?!”
    Chia sẻ với người thơ bởi bây giờ đâu còn lũy tre, cây đa, giếng nước, ao làng... nên không còn nhận ra làng mình ngày xưa nữa. “Tôi về... chẳng phải “làng tôi”?”. Câu tự hỏi mình sao mà chua chát và đắng lòng đến vậy! Người con của quê hương đã luống tuổi trước khi về quê háo hức mong gặp lại những kỷ niệm một thời tuổi trẻ, những bạn bè thân thiết ngày xưa... Nhưng khi về thì thật buồn: không còn nhận ra làng mình nữa. Còn người xưa thì  đã tít phương trời biệt ly”,đi làm ăn tứ tán khắp nơiTrưa hè oi bức ngày xưa uống bát nước chè xanh nấu từ nước giếng đá Ong đầu làng thật đã, mát lòng, mát ruột... còn nay được sử dụng sản phẩm công nghiệp nước uống “La Vie” hiện đại ở đâu cũng có thể mua được. “Thôi thì “ừng ực”... mấy khi về làng?!”. Đọc câu thơ ta thấy nao lòng. Thôi thì đành lòng vậy, cầm lòng vậy... biết làm sao được?
    Hai câu kết của bài thơ đẹp nhưng đầy luyến tiếc:
          “Giếng xưa thả ánh trăng vàng
          Chỉ còn trong lúc mơ màng nhớ quê”.
    Giếng xưa đã bị lấp rồi sao còn thấy được ánh trăng vàng thơ mộng, một thời mải mê ngắm trăng rơi đáy giếng nữa? Nó chỉ còn trong ký ức của những người nặng lòng với quê hương. Hình ảnh giếng nước đầu làng với bao kỷ niệm thân thương giờ đây “chỉ còn trong lúc mơ màng nhớ quê” bởi “bây giờ phố đã thay làng”.
Hà Nội. Ngày 16-8-2015 
Nguyễn Khôi gửi đăng.   
© Tác giả giữ bản quyền.   
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ TP. Hà Nội ngày 17.8.2015   
Xin Vui Lòng Ghi Rõ nguồn VanDanViet Khi Trích Đăng Lại.   
_______________________________________________    
  




Read more…

Tống biệt hành- khen chê chưa đúng mực? – Bài viết Phạm Đức Nhì (USA)

09:34 |
    Tống Biệt Hành của Thâm Tâm được báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng năm 1940. Chỉ hơn một năm sau, nó đã được Hoài Thanh chọn đưa vào tuyển tập Thi Nhân Việt Nam với những lời nhận xét:
    Thơ thất ngôn của ta bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài dưới đây (Tống biệt hành) lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp, lời thơ gắt, câu thơ rắn rỏi, gân guốc, không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại. (1)   
 
Thông tin cá nhân: (VanDanViet)    
Tác giả Phạm Đức Nhì   
Quê quán: Việt Nam    
Hiện định cư tại Galveston, Texas    
Email: nhidpham@gmail.com    
_____    
   
TỐNG BIỆT HÀNH- KHEN CHÊ CHƯA ĐÚNG MỰC?  

    Tống Biệt Hành của Thâm Tâm được báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy đăng năm 1940. Chỉ hơn một năm sau, nó đã được Hoài Thanh chọn đưa vào tuyển tập Thi Nhân Việt Nam với những lời nhận xét:
    Thơ thất ngôn của ta bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài dưới đây (Tống biệt hành) lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp, lời thơ gắt, câu thơ rắn rỏi, gân guốc, không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại. (1) 
         TỐNG BIỆT HÀNH (2)
          Đưa người, ta không đưa qua sông
          Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
          Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
          Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong
     
          Đưa người ta chỉ đưa người ấy
          Một giã gia đình một dửng dưng… 
          Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
          Chí nhớn chưa về bàn tay không
          Thì không bao giờ nói trở lại!
          Ba năm mẹ già cũng đừng mong

          Ta biết người buồn chiều hôm trước
          Bây giờ mùa hạ sen nở nốt 
          Một chị, hai chị cũng như sen
          Khuyên nốt em trai dòng lệ sót
   
          Ta biết người buồn sáng hôm nay:
          Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
          Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
          Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
 
          Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
          Mẹ thà coi như chiếc lá bay 
          Chị thà coi như là hạt bụi 
          Em thà coi như hơi rượu cay (3)
    Bài thơ không có phép ẩn dụ toàn bài nên tứ và ý giống nhau. Những bài viết khác đã giải thích và diễn dịch khá kỹ lưỡng nên ở đây tôi xin đi thẳng vào phần phân tích và nhận định nghệ thuật.   
    Bốn câu thơ mở đầu thật tuyệt.
          Đưa người ta không đưa qua sông
          Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
          Bóng chiều không thắm không vàng vọt
          Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
    Mấy câu thơ hay quá! Tứ thơ đẹp quá! Âm điệu mới lạ do phá cách trong luật bằng trắc lôi cuốn được sự chú ý của người đọc ngay từ giây phút đầu tiên. Hai câu đầu là tâm sự, cảm xúc của người đưa tiễn: không đưa người qua sông nhưng sao lòng ta nôn nao như sóng vỗ. Hai câu sau là tâm tình kẻ ra đi qua sự nhận xét tinh tế của người đưa tiễn: chỉ nhìn đôi mắt, ta cũng biết người buồn lắm vì trong đôi mắt ấy chứa cả bóng hoàng hôn. Để tả cảnh tiễn biệt, chia ly, 4 câu thơ trên có thể hiên ngang đọ sức về giá trị nghệ thuật với bất kỳ đoạn thơ nào, ngay cả của thơ ca đương đại, mà không hề nao núng. 
    Âm điệu gân guốc, rắn rỏi.
    Thơ Mới thời bấy giờ cổ vũ ý tưởng mới, ngôn ngữ mới, thể thơ mới, đề tài mới… nhưng vẫn tôn trọng một số âm luật cũ để giữ được âm điệu mềm mại, du dương trong thơ. Tống biệt hành được cấu trúc bằng phương thức nghịch âm bất tuân những niêm luật vốn có của thể hành. Nó cũng chẳng tôn trọng âm luật của thơ mới. Có câu toàn thanh bằng: Đưa người ta không đưa qua sông; có câu có đến 4 thanh trắc liên tiếp:Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Bởi vậy âm điệu của nó không uyển chuyển, du dương như phần nhiều thơ thời bấy giờ, thay vào đó, điệu thơ gấp, lời thơ gắt, câu thơ rắn rỏi gân guốc. Đó là nét rất độc đáo của Tống Biệt Hành. Nhờ đó, mới ra lò nó đã được sự chú tâm, ưu ái của Hoài Thanh.  
    Gợi được không khí hào hùng
    H. Linh trong bài Đến Với Bài Thơ Hay: Tống Biệt Hành Của Thâm Tâm, đã viết:
    Đề tài bài thơ là một trong hằng hà sa số những cuộc ly biệt được đưa vào “Thơ Mới” thời 1930 – 1945. Nhưng có lẽ trong văn học Việt Nam, trước và sau Thâm Tâm, không ai viết về chia ly đầy tính bi hùng, trữ tình và mãnh liệt đến như thế.
    Không rõ “Tống Biệt Hành” có gì “khó hiểu”? Nhưng rõ ràng khi đọc, tôi thấy thật “bâng khuâng”. Vẻ trầm hùng, cổ kính của bài thơ cùng những hình ảnh “mong manh, ghê rợn, như những nhát dao xiết vào tâm hồn, tưởng là rất nhẹ hóa ra lại rất nặng” gây nên một ấn tượng thật mạnh và sâu đến người đọc. (4)
    Còn Nguyễn Hưng Quốc nhận xét khách quan hơn, chính xác hơn: 
    Chị, em và người yêu lưu luyến thế ấy, chẳng lẽ lại đành tâm ra đi? Nhưng ly khách lại đi thật. Bóng đã xa, người đưa tiễn còn ngơ ngác đứng và hun hút nhìn:
          Người đi? ừ nhỉ, người đi thực 
          Mẹ thà coi như chiếc lá bay 
          Chị thà coi như là hạt bụi 
          Em thà coi như hơi rượu say
     li khách tuy ngậm ngùi nhưng nét chính vẫn là sự nghênh ngang, hào sảng. Thấp thoáng chút hùng khí đời xưa. Phảng phất hình ảnh Kinh Kha ngày trước. Rất đẹp. Biết là cường điệu mà vẫn thấy đẹp. (5) 
    Có lẽ ưu điểm lớn nhất, thành công lớn nhất của Tống Biệt Hành là gợi lại được cái cảnh tượng bi tráng của cuộc đưa tiễn Kinh Kha qua sông Dịch. Cái thần tình của Thâm Tâm là ông không nhắc gì đến Thái Tử Đan, Kinh Kha, Tần Thủy Hoàng, không nhắc gì đến con sông Dịch; ông chỉ gián tiếp, bóng gió rất xa xôi, bằng việc chọn thể hành cổ kính, đề tài tống biệt quen thuộc, chất liệu thơ xưa cũ, và chỉ có thế cũng đã đủ khiến người đọc không thể không cảm thấy như chính mình đang hít thở cái không khí trầm hùng của cuộc chia ly ấy. 
    Ngôn ngữ thơ trong Tống Biệt Hành
    Theo Chu Mộng Long thì:
    Bài thơ (Tống Biệt Hành) phục sinh một cách toàn diện những gì tưởng chừng đã bị khai tử: thể hành cổ kính, đề tài tống biệt với người ra đi – li khách xưa cũ, kể cả chất liệu thơ: sông, sóng, bóng chiều, hoàng hôn, sen, lệ, màu thu, lá bay, hạt bụi, hơi rượu say quen thuộc đến mức đã mòn về nghĩa… (6) với ý nhại cổ (giễu nhại : parody) 
    Theo tôi, Thâm Tâm không phục cổ hoặc nhại cổ mà chỉ gợi cổ.
    Chỉ với những từ sông, sóng, bóng chiều, hoàng hôn rất cũ, rất xưa, Thâm Tâm đã tạo nên 4 câu thơ tuyệt vời:
          Đưa người ta không đưa qua sông
          Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
          Bóng chiều không thắm không vàng vọt
          Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? 
    Và cũng với chất liệu thơ cũ mòn cộng với thể hành cổ kính và đề tài tống biệt quen thuộc đã góp phần rất quan trọng vào việc gợi lại không khí trầm hùng, bi tráng trong bài thơ. 
    Nhưng cũng với những từ cũ như: sen, lệ, mùa thu, mắt biếc, chiếc khăn tay, ông đã viết nên 2 đoạn thơ: 
          Ta biết người buồn chiều hôm trước
          Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
          Một chị, hai chị cũng như sen
          Khuyên nốt em trai dòng lệ sót
 
          Ta biết người buồn sáng hôm nay:
          Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
          Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
          Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay… 
    không những tầm thường mà lại còn hơi “sến” nữa. 
    Cho nên nếu thi sĩ khám phá được thể thơ mới, đề tài mới, chất liệu thơ mới thì, dĩ nhiên, rất đáng hoan nghênh. Tuy nhiên, những thứ “mới” ấy chỉ thực sự có giá trị khi nhờ chúng thi sĩ đưa được những câu thơ mới, hình tượng mới, trong đó chứa đầy cảm xúc mới của mình, vào thơ. (7) Nhưng dù thế nào đi nữa cũng không nên coi thường thứ ngôn ngữ, chất liệu thơ xưa cũ hoặc giản dị. Nếu bài thơ vừa mới vừa hay vừa đẹp thì sẽ được độc giả nồng nhiệt đón chào, ngả mũ bái phục; còn nếu chỉ có mới không thôi thì nó cũng sẽ sớm đi vào quên lãng như hằng hà sa số những bài thơ dở khác. 
    Đoán tâm trạng của người khác
          Nước trong, cá tung tăng, cá vui đấy.
          Anh không là cá sao anh biết cá vui?
          Anh không là tôi sao anh biết tôi không biết cá vui? 
    Trên đây là mẩu đối thoại của hai triết gia Trung Hoa (tôi quên tên) ý muốn nói rằng “không thể biết được những suy nghĩ, tâm trạng của người khác”. Theo tôi, nếu có óc quan sát tinh tế, thì trong khá nhiều hoàn cảnh, người ta có thể nhận biết được đối tượng (được quan sát) đang vui, buồn hay dửng dưng, vô cảm. Nhưng nếu muốn đặc tả tâm trạng, muốn đi vào chi tiết của niềm vui, nỗi buồn thì duy nhất chỉ có người trong cuộc. Đó là lý do thi sĩ thường viết ở ngôi thứ nhất.
    Trong Tống Biệt Hành, tác giả có đến 5 trường hợp đoán tâm trạng người khác.  
      1. “Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
          Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong”
    Nhìn đôi mắt “đầy hoàng hôn” của bạn tôi đoán là bạn đang buồn. Điều này có thể chấp nhận được. Đôi mắt là cửa sổ linh hồn, vui buồn thể hiện lên đôi mắt.
      2. “Một giã gia đình một dửng dưng”
    Nhìn khuôn mặt vô cảm của bạn tôi biết bạn dửng dưng trước cuộc chia ly.
      3. Ta biết người buồn chiều hôm trước
          Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
          Một chị, hai chị cũng như sen
          Khuyên nốt em trai dòng lệ sót
      4. Ta biết người buồn sáng hôm nay:
          Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
          Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
          Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
    Nhìn cảnh bịn rịn, quyến luyến của chị, của em với bạn, tôi đoán bạn rất buồn khi chia ly.
      5. Ba câu cuối của bài thơ:
    Ở 4 trường hợp đầu tác giả đã sử dụng khả năng quan sát tinh tế của mình để cảm nhận nỗi buồn (hoặc dửng dưng) của ly khách. Có lẽ ông đã áp dụng kinh nghiệm của các cụ ngày xưa qua câu ca dao:
          Trông mặt mà bắt hình dong
          Con lợn có béo bộ lòng mới ngon.
    Điều này có thể tạm chấp nhận được, vì đó chỉ là nỗi buồn chung chung, không đặc tả, không có chiều sâu. Tuy nhiên, sử dụng phương pháp này trong thơ thì hơi bị… thất cách, sức thuyết phục đối với độc giả rất yếu. Bởi tục ngữ cũng có câu “xanh vỏ đỏ lòng”; nhìn bề ngoài mà “bắt mạch tâm trạng” thì rất dễ bị “bé cái lầm”. Còn riêng trường hợp thứ 5 thì phải nói là “vô phương bào chữa”. Đoán tâm trạng người khác mà thi sĩ dám viết chi li đến độ: 
          Mẹ thà coi như chiếc lá bay
          Chị thà coi như là hạt bụi
          Em thà coi như hơi rượu cay… 
    thì quả là “liều” hết chỗ nói.
    Dẫu biết rằng trong thực tế thì tâm trạng của kẻ ra đi hay người đưa tiễn cũng đều là của Thâm Tâm, nhưng đã lập trận địa chữ nghĩa, phân công phân nhiệm tướng sĩ, thì vai nào phải ra vai đó; người phàm mắt thịt mà cứ như là Tiên, Thánh, đọc tâm ý người đối diện vanh vách như đọc tờ báo trước mặt thì coi sao được. Theo tôi, đây là khuyết điểm lớn, làm giảm sức thuyết phục của bài thơ.
    Phú quý giật lùi 
    Đọc bài thơ Tống Biệt Hành chắc không ít độc giả có nhận xét giống tôi. Đoạn đầu hay quá, tuyệt quá, để lại hương vị thật ngọt ngào, sảng khoái. Nhưng đến những đoạn sau, đoạn thì cường điệu, giả tạo, đoạn thì tầm thường, nhạt nhẽo. Đoạn cuối thì cảm xúc dâng trào, hào khí bốc cao nhưng đó chỉ là cảm xúc, hào khí kiểu quân tử Tàu, vừa khinh bạc, vừa vô tình, hơn nữa, chỉ là sản phẩm từ sự võ đoán của người đưa tiễn.
    Tôi đã có một đôi lần, vào các dịp lễ tết, xem văn nghệ tại các chùa, nhà thờ gần nhà. Vài Phật tử, con cái Chúa là ca sĩ chuyên nghiệp, từ Cali bay sang hát “sô”, nhân tiện ghé vào chùa, nhà thờ hát ủng hộ mấy bài. Họ yêu cầu được xếp hát ở đầu chương trình để còn “chạy” chỗ khác. Thế là chương trình văn nghệ có vài tiết mục đầu hấp dẫn, còn sau đó là “cây nhà lá vườn”. Tôi không có ý phủ nhận thiện chí, tinh thần phục vụ của các em trong Gia Đình Phật Tử, Thiếu Nhi Thánh Thể, nhưng rõ ràng cái không khí hào hứng của chương trình văn nghệ, sau mấy tiết mục đầu, đã giảm đi, đã nhạt đi rất nhiều. 
    Cũng tương tự như vậy, các vị khách mời trong buổi tiệc thơ Tống Biệt Hành, nếu không bị hơi men làm mờ mắt, sẽ thấy phẩm chất của rượu thì “phú quý giật lùi”, càng về sau càng kém ngon, càng về sau càng “dởm”. Đây cũng là một lỗi không nhỏ của thi sĩ trong việc dàn trải ý tứ. 
    Những lời khen + Những lời tán dương quá lố
    Trong thời gian tra cứu để viết bài này tôi thấy một điều rất lạ là hàng mấy chục bài viết liên quan đến Tống Biệt Hành, bài nào cũng vậy, đều hết mực ngợi khen. Tay viết nào già giặn thì lời khen văn hoa bay bướm, kém hơn thì sao chép nguyên ý của các bậc lão thành, đàn anh, chỉ đổi sơ lời văn, giọng văn cho nó thành của mình. Đặc biệt trong trang mạng của các trường đại học, trung học thì các bài bình Tống Biệt Hành đều rập khuôn, đều ca tụng đến tận trời xanh. 
    Sau đây là một lời khen “hơi mạnh miệng”:
    Khi sáng tác “Tống biệt hành”(1940) có lẽ Thâm Tâm cũng không ngờ rằng bài thơ của mình sẽ để lại nhiều ẩn số cho hậu thế. Cuộc đời của ông ngắn ngủi. Tác phẩm ông để lại không nhiều. Nhưng chỉ với một “Tống biệt hành”, ông đã được lưu danh vào lịch sử văn học nước nhà. “Tống biệt hành” không chỉ là một trong những bài thơ hay nhất của phong trào Thơ Mới mà còn xứng đáng là một kiệt tác của thơ Việt Nam hiện đại. (12) 
    Và kế tiếp là thí dụ về một “vẻ đẹp tưởng tượng” của một nhà phê bình văn học có vai vế, có học vị, Thạc Sĩ Hồ Thúy Ngọc:
    Kế thừa nhưng không lặp lại, Thâm Tâm đã tạo nên sức sống diệu kỳ cho Tống biệt hành. Đặc biệt, sự kế thừa, sáng tạo trong cấu tứ thơ Đường giúp tác giả thể hiện sâu sắc một cái nhìn đa chiều về “vẻ đẹp con người cao cả trong toàn bộ sự biểu hiện chân thật của nhân tính, đầy tinh thần nhân đạo”(13) 
    Nhưng Chu Mộng Long lại nghĩ khác. Theo ông, trong Tống Biệt Hành: 
Kẻ ra đi chỉ có hành động mà không có nội tâm: một giã gia đình, một dửng dưng; chỉ có lí tưởng mà coi thường tình cảm: Chí nhớn chưa về bàn tay không; đề cao lí tưởng mà quên tình ruột thịt: Thì không bao giờ nói trở lại!/ Ba năm mẹ già cũng đừng mong. (14)
    Và vô tình nhất, theo tôi, có lẽ là 3 câu cuối của bài thơ
          Mẹ thà coi như chiếc lá bay
          Chị thà coi như là hạt bụi
          Em thà coi như hơi rượu cay… 
    Vì chí lớn, vì nghiệp lớn, vì lý tưởng, vì đại nghĩa, vì quê hương đất nước ra đi, thân này kể bỏ; những người thân yêu ruột thịt cũng coi như không, nói chi đến bạn bè. Ngay cả người gần gũi nhất là bà mẹ đã banh da xé thịt cho mình được chào đời, cũng chỉ xem như là chiếc lá bay. Cạn một ly rượu để hơi men bừng lên đôi mắt. Lúc ấy trên vai là gói hành trang, đâu đó vọng lại tiếng gọi của bạn bè đồng trang lứa, và trước cổng nhà là con đường rộng mở dẫn đến tương lai. Mạnh bước ra đi. Khác gì Kinh Kha, theo lời ủy thác của Thái Tử Đan qua sông Dịch thực hiện một sứ mạng trọng đại cứu muôn vạn dân lành. Ôi hiên ngang quá! Hào hùng quá! Lãng mạn quá! Nhưng nghe sao cũng vô cùng khinh bạc, thiếu tình người, nếu không muốn nói là vô nhân đạo.
    Tôi không cổ võ cho việc chạy chọt để lánh né chiến trường, an thân ở hậu phương lúc nước nhà nguy biến, nhưng cái thái độ vô tình, coi nhẹ gia đình, coi nhẹ những người thân yêu ruột thịt, như li khách, thật khó mà đồng cảm.
    Chúng ta hãy nghe Yên Thao bày tỏ tâm sự lúc chia tay người vợ đầu gối, tay ấp của mình: 
          Tôi có người vợ
          trẻ đẹp như thơ
          tuổi chớm đôi mươi, cưới buổi dâng cờ
          má trắng mịn thơm thơm mùi lúa chín
          ai ra đi mà không từng bịn rịn?
          rời yêu thương nào đã mấy ai vui?
          em nhìn tôi e ấp buổi chia phôi
          tôi dấn bước mà nghe hồn nhỏ lệ. (15)
                                       (Nhà Tôi, Yên Thao)
    Đó mới là có chút tình người; đó mới tạm gọi là có hơi hám của nhân bản, nhân đạo. Người lính chiến trong Yên Thao vẫn chấp nhận ra đi làm nghĩa vụ của mình, nghĩa vụ của trai thời loạn, nhưng là con người, trái tim không phải là sỏi đá, nên khi “dấn bước” lên đường đã đau thương đến độ “nghe hồn nhỏ lệ”. Còn như Thâm Tâm:
          Mẹ thà coi như chiếc lá bay
          Chị thà coi như là hạt bụi   
          Em thà coi như hơi rượu cay…    
    thì quả là quá cứng cỏi, quá lạnh lùng và quá vô tình. 
Thạc Sĩ Hồ Thúy Ngọc trích lời Trần Đình Sử cho là “sự biểu hiện chân thật của nhân tính, đầy tinh thần nhân đạo” thì quả là có óc tưởng tượng cực kỳ phong phú.
    Vài Lý Do
    Tống Biệt Hành là bài thơ hay, nổi tiếng, được rất nhiều người biết đến và yêu mến. Có điều mức độ nổi tiếng của nó lại không tương xứng với giá trị nghệ thuật, có thể nói, đã vượt khá xa giá trị nghệ thuật. Sau đây là một vài lý do:
      1. Tống Biệt Hành khơi lại được cái hào khí của Kinh Kha – vì chí nhớn, vì đại cuộc, sẵn sàng liều mình ra đi – đúng vào thời điểm tuổi trẻ VN nô nức lên đường chống Pháp, và sau đó “chống nhau” (miền nam thì chống cộng, miền bắc thì đánh miền nam để thống nhất đất nước dưới chế độ cộng sản) nên được chính quyền miền bắc, và sau đó là miền nam, giúp sức phổ biến vì lý do chính trị.
      2. Tống Biệt Hành lọt vào mắt xanh của Hoài Thanh – một cây bút bình thơ sắc sảo, uy tín vào hạng nhất thời bấy giờ – và được ưu ái giới thiệu trong Thi Nhân Việt Nam. Các bài viết về Tống Biệt Hành sau này, vì uy tín của Hoài Thanh và Thi Nhân Việt Nam, không tiếc lời ca ngợi bài thơ, nhiều khi bịa ra “những cái đẹp tưởng tượng” để tán dương.
      3. Tống Biệt Hành được đưa vào chương trình giảng dạy văn học; dựa vào mấy bài mẫu của ngành giáo dục, sinh viên học sinh cứ thế mà “tụng”, mà khen bài thơ đến tận trời xanh.
      4. Những người có ý kiến khác biệt cũng không dám bày tỏ vì đang sống và chịu ảnh hưởng của một môi trường văn học chưa được tự do; viết khác đi dễ bị để ý, trù dập. 
    Như vậy, Tống Biệt Hành được rất đông đảo người đọc biết đến, khen hay, rồi yêu thích, dĩ nhiên, một phần là vì giá trị nghệ thuật của nó, nhưng cũng còn vì những “cái khác” (rất ngoài thơ) nữa. Khi rũ sạch hết những “cái khác” ấy, Tống Biệt Hành sẽ trần trụi hiện ra, không xiêm y lụa là của thời đại; bên cạnh những nét đẹp độc đáo cũng còn không ít những khuyết điểm khá quan trọng liên quan đến cả ý tưởng và kỹ thuật thơ.
    Khi được thả hồn mình đắm chìm trong không khí trầm hùng bi tráng của cuộc chia tay lịch sử trên sông Dịch, người đọc dù nhận ra những “bất ổn” trong bài thơ, cũng cố lờ đi, để nghe trái tim mình đập nhanh hơn, để thấy hào khí bốc lên ngút trời, vì chí nhớn mà nhảy vào biển lửa cũng không một giây do dự.
Tôi, với cái nhìn chủ quan của mình, đã cố công phân tích, bình phẩm bài thơ Tống Biệt Hành. Trước hết, để đưa nó về vị trí tương xứng với giá trị nghệ thuật của nó. Sau nữa, nếu có quý vị nào làm công tác phê bình văn học, có tầm nhìn rộng hơn, muốn đánh giá bài thơ trong một khung cảnh rộng lớn hơn, trong một giai đoạn lịch sử dài hơn, thì bài viết này xin được đóng vai trò một lời góp ý nho nhỏ trong kho tư liệu của quý vị. 
    KẾT LUẬN 
    Khi biết tôi có ý định viết về Tống Biệt Hành, một anh bạn bắc kỳ 54, cũng thuộc giới cầm bút, đã nhắc nhở:
    Bài Tống Biệt Hành của Thâm Tâm có một sức hút rất lớn đến hai thế hệ chiến tranh của Việt Nam (thế hệ đàn anh của mình và thế hệ của tôi và anh). Đơn giản: chúng diễn tả và đáp ứng đúng tâm trạng những người trai vừa lớn lên phải đối mặt với chiến tranh (chiến tranh chống Pháp, chiến tranh chống Cộng). Nhưng với các thế hệ đàn em, sức hút của bài thơ không lớn, nếu có chăng chỉ là tầm vóc nghệ thuật mà bài thơ ấy có được. Vì thế, khi viết về bài thơ này, phải hết sức cẩn trọng (trong lời chê). Người đọc (thế hệ chúng ta) mang tâm trạng như đọc về quá khứ của mình, trong đó chỗ đứng của bài thơ này chiếm vị trí rất trang trọng.”
    Trước tiên, tôi sẽ nghe lời khuyên của anh – “hết sức cẩn trọng” trong phần viết về khuyết điểm của bài thơ. Tôi cũng đồng ý với anh là thế hệ kế tiếp của anh và tôi – không bị ảnh hưởng bởi cái sức hút vô hình kia – sẽ có được cái nhìn chính xác hơn về giá trị của bài thơ. Nhưng khi nhìn qua cửa sổ, thấy những chiếc xe bus vàng đón trẻ con đi học, tôi chợt nhớ mình đang sống trên nước Mỹ tự do. Trước những trào lưu văn học mới, Thi Nhân Việt Nam (Hoài Thanh) cũng không còn là “khuôn vàng thước ngọc” (ít nhất đối với tôi), và ở cái tuổi trên 6 bó của cuộc đời, hào khí của Kinh Kha cũng không đủ sức mê hoặc tôi đến mức khi đọc Tống Biệt Hành có thể quên đi công việc của mình đang làm là thẩm định giá trị nghệ thuật của bài thơ.
    Như vậy, công việc ấy tại sao cứ phải chờ đến thế hệ sau, anh nhỉ? 
Viết xong cuối tháng 1 năm 2014 
----  
Chú Thích:
(1) Thi Nhân Tiền Chiến, Hoài Thanh & Hoài Chân, NXB Văn Học, 1988, tr.281
(2) Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn, Lý Hồng Xuân, Văn Nghệ, 2000, tr. 261
(3) Nhiều bản khác viết là say. Khi trích tôi giữ nguyên bản chính.
(4) Đến Với Bài Thơ Hay: Tống Biệt Hành Của Thâm Tâm, H. Linh,thuonghylenien.com
(5) Tứ Thơ, Nguyễn Hưng Quốc, Tìm Hiểu Nghệ Thuật Thơ Việt Nam, Quê Mẹ xuất bản tại Paris, 1988
(6), (7), (14) Phục Cổ Hay Nhại Cổ? Trường Hợp Tống Biệt Hành, 
chumonglong.wordress.com. Ông Chu Mộng Long, hiện đang giảng dạy tại Đại Học Quy Nhơn, cho biết bài viết đã được đăng trên Tạp Chí Thơ, Hội Nhà Văn, 06/2008. 
    Về điểm này tôi có viết một đoạn thơ vui như sau: 
          Thái Tử Charles ôm Công Nương Diana
          trên chiếc giường nệm êm ái
          Chí Phèo chẳng cần giường
          mà đè Thị Nở ngay bên gốc chuối
          nếu chỉ dựa vào độ “hiện đại” của chiếc giường
          để đoán cô gái nào sướng hơn
          có khi bạn lầm to
                   (Lầm To, Phạm Đức Nhì)
(8), (9), (10), (11) Nhận Diện CDNV, Lý Hồng Xuân, Văn Nghệ, 2000, tr. 261 
(12) Hoàng Trọng Hà, Vài Suy Nghĩ Về Bài Thơ Tống Biệt Hành, baolamdong.vn 
(13) Vẻ Đẹp Cổ Điển Và Hiện Đại Trong Tống Biệt Hành Của TT, Thạc Sĩ Hồ Thúy Ngọc (Trích lời Trần Đình Sử), htu.edu.vn/khoa-su-pham-xa-hoi-nhan-van 
(15) Đoạn thơ trên được lưu truyền trong các sinh hoạt văn học, văn hóa, văn nghệ ở miền nam; tôi thuộc lòng vì thường hay diễn ngâm trong các buổi nghệ. Còn đoạn dưới đây được trích trong sách báo dòng chính ở miền bắc.
          Tôi có người vợ trẻ
          đẹp như thơ
          tuổi chớm đôi mươi, cưới buổi dâng cờ
          má trắng mịn thơm thơm mùa lúa chín
          ai ra đi mà không từng bịn rịn?
          rời yêu thương nào đã mấy ai vui?
          em lặng buồn nhìn với lúc chia phôi
          tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ.
(Thơ VN/Thế Kỷ XX/Thơ Trữ Tình/NXB Giáo Dục/2004)
Mạnh bước có vẻ không ăn khớp lắm với nghe hồn nhỏ lệ. Dấn bước nghe hợp hơn và hay hơn nhiều.
----   
© Tác giả giữ bản quyền.   
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ USA ngày 16.8.2015   
Xin Vui Lòng Ghi Rõ nguồn VanDanViet Khi Trích Đăng Lại.   
_______________________________________________    
  




Read more…