Trang Văn Thơ Việt Nam

TA LẠI VỀ, SÔNG RAY ƠI... - Thơ Nguyễn Nguyên Phượng

14:30 |
                                       
                                             (Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình! - Nguyễn Du)

              * Thân tặng các anh Trương Văn Nhi, Phí Văn Bình, nguyên HT, HP trường THPT Sông Ray và bè bạn, thầy cô mái trường Sông Ray.

                                        Về đây cứ ngỡ tình cờ
                              Mười lăm năm. Cuộc hẹn hò vẫn xanh
                                        Sông Ray nắng, bụi đất lành
                              Vượt cầu, băng suối mà thành quê hương
                                       Nông trường Một còn mờ sương
                               Áo trắng bay quyện trống trường lan xa
                                       Ngã Tư (1) bè bạn cùng  ta
                               Tầng cao. Trang mộng mở ra bầu trời
                                       Những cánh chim mạnh nhịp đời
                               Như trong cổ tích chan ngời dấu yêu
                                       Những chiều Cống Lở mưa xiêu
                               Cuộn tràn Suối Đá (2)  cũng liều xe bon
                                       Đêm hồng Hội trại dập dờn
                                Tiếng ca em ngọt còn hơn rượu tình
                                        Cuộc cờ xe, pháo rập rình
                                 Được, thua sảng khoái quên mình gian nan
                                        Lại mùa phượng náo nức sang
                                Ve ngân li biệt cho bàng hoàng đau
                                        Dòng trôi sinh tử về đâu?
                                Có chăng tri kỉ bền lâu với đời...
                                        Ta lại về - Sông Ray ơi
                                Tươi nguyên thương nhớ đầy vơi hẹn hò...

                                                     Cuối tháng 10/2014
                                                     N.N.P (Đồng Nai)
                            
               (1)  Năm học 1998 -1999, Phân hiệu Sông Ray đặt tại Nông trường I thuộc xã  Sông Ray - huyện Xuân Lộc. Năm học 2000 - 2001, trường THPT Sông Ray xây mới tại Ngã tư Sông Ray nay thuộc huyện Cẩm Mỹ.  Anh Trương Văn Nhi giữ chức Hiệu Trưởng từ năm 2000 đến ngày 1/11/2014 nghỉ hưu.

               (2)  Tên cầu, cống trên đường đến trường Sông Ray.
                                      

                                
Read more…

ĐIỀU NGẪM TỪ CAFÉ KHÔNG THUỐC LÁ! - Thơ Nguyễn Nguyên Phượng

14:30 |
                            
                                                   
                                Mùa Thu rớt nắng chiều xa
                                phố chìm thương nhớ
                                thật dễ tìm một tứ thơ...
                                Vòng xanh lãng đãng
                                người tình xưa cận kề
                                miền yêu bật khóc
                                một ngụm đắng cay hoài niệm
                                níu nhau trăm nỗi ngậm ngùi
                                café đằm khói thuốc...

                                Đối tình trang trắng
                                nỗi đau đời không chỉ chau cau nơi tượng gầy La Hán
                                cái ác hả hê mặt Thiện cười dự dạ hội hóa trang
                                công lý mang hình lưỡi gươm/dấu hỏi
                                café không đường, nước loãng hương
                                không thể làm nhà văn khi nhai keọ cao su nhóp nhép!*
                                trí tưởng kích căng ý tưởng tuôn dòng
                                tình nghệ sĩ ngợp mê khói thuốc!

                                Chưa hẳn thế
                                trăng soi đáy thời gian
                                chập chờn cơn mộng phù sinh
                                suy tư kiệt nhựa yêu thương
                                ngày mới ngày hát chào bình minh
                                hạt bụi lung linh cõi thế
                                đã đủ đâu máu tươm đầu ngọn bút, lệ thấm trang văn**
                                đã hiến tận nguyên trinh/ lặn cùng dâu bể?
                                làm sao mở tâm tư gọi lời con chữ!
                               
                                Chông chênh nhân gian những điều dự báo
                                mỗi sát na con tim vỗ cánh mặt trời
                                đu dây - nụ cười
                                mùa Xuân - tâm bão
                                Em lại về, Người tình cảm hứng tinh khôi
                                trong giọt đắng đằm thơm không khói thuốc.
                                                                               28/6/2015
                                                                               N.N.P
* Lời của một nữ nhà văn Phương Tây


** Mộng Liên Đường Chủ Nhân (1820) theo bản dịch Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim bình luận Truyện Kiều của Nguyễn Du.
 "... Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn đứt ruột... Tố Như Tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trong thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy".
Read more…

NHỮNG BÀI THƠ CỦA TÁC GIẢ TRẺ HẠNH VÂN VIẾT VỀ BÁC HỒ - Bài của Nguyễn Nguyên Phượng

15:00 |
Chủ tịch Hồ Chí Minh

   
       1. Chủ tịch Hồ Chí Minh -  Bác Hồ -  bậc vĩ nhân của nhân loại, vị cha già muôn vàn kính yêu của mỗi người dân Việt nên trên nhiều lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật đã có nhiều thành tựu thế kỉ về Người từ văn chương, hội họa cho đến điêu khắc, âm nhạc… trong và ngoài nước. Tuy vậy, đề tài Bác Hồ vẫn là một thách thức lớn với người cầm bút. Chỉ xét riêng phạm vi thi đàn hiện đại nước nhà, người cầm bút khó mà vượt qua được những nhà thơ từng được làng Thơ Việt Nam vinh danh viết về Bác như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Minh Huệ, Thu Bồn, Hải Như… Mới đây, nhân kỉ niệm 123 ngày sinh của Bác, Vannamnet cũng đã gởi đến người yêu thơ - yêu kính Bác chùm thơ hay viết về  Người, Chế Lan Viên (Di chúc của Người), Trần Ninh Hồ (Bác đến), Trần Đăng Khoa (Em gặp Bác Hồ), Nguyễn Đức Mậu (Về thăm nhà Bác)… Trong bài viết trên báo Đồng Nai (1) nhà thơ Đàm Chu Văn  đã nồng nhiệt giới thiệu những tác giả trẻ làm thơ của tỉnh nhà thuộc thế hệ 8x như Phan Danh Hiếu, Đào Nguyên Thảo, Lê Thùy Dung, Xuyến Chi…  Tôi chú ý những dòng anh viết về Hạnh Vân -  một tiếng thơ trẻ trung, mới trong giọng điệu, đa dạng đề tài trong chừng mực “không sa vào những cách tân hình thức rậm lời, khó hiểu như một số cây bút trẻ. Đặc biệt, với đề tài truyền thống yêu nước và cách mạng, tấm lòng kính yêu đối với Bác Hồ, chị có những thành công bước đầu”.  Tìm hiểu tôi được biết, những bài thơ  “Hoa khoai lang trong vườn Bác”, “Hoa râm bụt ở đồi ATK”, “Ngắm chân dung Bác Hồ làm từ dây lá buông” đã đăng trên tạp chí VNQĐ (số 756, tháng 9/2012 và số 772, tháng 5/2013)  cùng với bài “Đài Kỷ niệm trong trang viết của Bác” là chùm thơ được giải Nhì của cuộc thi về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Nai tổ chức năm 2012. Đến với đề tài Bác Hồ, điều quan trọng có thể nói là bậc nhất với người viết là qua sáng tác cần đọng ở người đọc đôi điều suy ngẫm, đôi điều thú vị sâu sắc về cuộc đời nhân vật mà ai cũng biết đến, cũng nghe kể; những di vật quen thuộc, đời thường ai cũng nhìn thấy, sờ chạm, cầm nắm. Do vậy, nỗ lực tìm tòi, dựng cảm hứng, tổ chức ngôn ngữ văn chương để có những câu thơ hay về Bác quả thật không dễ dàng. Vậy mà tác giả trẻ Hạnh Vân đã có đến bốn bài thơ, và những bài này đều được đặc san địa phương, tạp chí TƯ lên bài thì đấy là niềm vui cần được chia sẻ.
    2. Đó chính là điều mà nhà thơ Đàm Chu Văn đã đề cập đến, “… Chùm thơ về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh: Hoa râm bụt ở đồi ATK, Hoa khoai lang trong vườn Bác, Ngắm chân dung Bác Hồ làm từ dây lá buông, Đài Kỷ niệm trong trang viết của Bác, Hạnh Vân có những tìm tòi, phát hiện để lại nhiều ấn tượng”. Là phó chủ tịch Hội VHNT Đồng Nai, tổng biên tập tạp chí VNĐN, viết về “người nhà, gà nhà” (Hạnh Vân sinh năm 1980, dạy học ở Trường THPT Vĩnh Cửu, Đồng Nai, hội viên Hội VHNT Đồng Nai),  anh khen như thế có quá lời không? Tôi không cho là như vậy. Bác Hồ - Chủ tịch Hồ Chí Minh từ thuở thanh niên đã bôn ba tìm đường cứu nước, cứu dân đến khi trở thành Chủ tịch nước vẫn sống đời thanh bạch giản dị từ nơi ở, bữa ăn, sinh hoạt đến tấm áo mặc, thú vui… ngời sáng tấm gương đạo đức. Nhà thơ Tố Hữu đã từng có những câu thơ mang tính tổng kết phẩm chất cao đẹp một đời vì dân tộc, vì nhân dân của Bác:
                               Mong manh áo vải hồn muôn trượng
                              Hơn tượng đồng phơi những lối mòn… (Bác ơi)                                                                    
                                                                                                                                                                                     
      Chế Lan Viên lại chọn và chạm đến nỗi đau đáu sâu thẳm: niềm ưu dân ái quốc trong tâm hồn Bác bằng một chi tiết nhỏ đắt giá:
                              Đêm xa nước đầu tiên ai nỡ ngủ
                              Sóng dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương… (Người đi tìm hình của nước)
        Chất nhân văn ngời lên ở những dòng cô đúc của nhà thơ Hải Như viết về đôi dép lốp  Bác thường đi:

                                  Bác Hồ đi dép lốp cao su

                                  Đâu chỉ vì giản dị

                                 Mà vì lẽ cao hơn

                                 Ta lười nghĩ chẳng tìm thêm
                                 Khi trái đất này còn những trẻ em
                                 Chưa có đủ giày đi
                                 Người không sao sống khác. (Đâu chỉ vì giản dị)                                           


        Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu trong một lần về thăm nhà Bác ở làng Sen đã đưa vào thơ những gì thân thuộc gần gũi với Bác: ... Ngôi nhà Bác thuở thiếu thời/Nghiêng nghiêng mái lợp bao đời nắng mưa/Chiếc giường tre quá đơn sơ/Võng gai ru mát những trưa nắng hè… (Về thăm nhà Bác)

     Trở lại với những bài thơ của  Hạnh Vân viết về Bác Hồ…
     Với bài thơ Hoa khoai lang trong vườn Bác,  Hạnh Vân chọn hoa khoai mà theo lời của hướng dẫn viên du lịch làng Sen, quê Bác, “Bác thấy hoa khoai lang rất đẹp, củ và lá đều dùng vào bữa ăn hàng ngày…”. Tác giả như bắt được mạch cảm xúc cho tứ thơ và sử dụng phép liệt kê – so sánh  với cúc, hồng, huệ, lan để  hoa khoai tím dịu nở trong vườn nhà Bác.  Bởi một đời Bác làm cách mạng vì nhân dân nên yêu thích vẻ đẹp giản dị của loài hoa khoai: đẹp ở sắc bình dị, “đẹp” ở sự thiết thực (củ, lá) no bụng, ấm lòng cho người dân.
                   Lá – củ thảo thơm
                   dân được no lòng
                  hoa khoai đẹp từ điều bình dị ấy
                  Bác thương người nông dân tay bùn chân lấm
                  nên thương cả loài hoa  biết xoa dịu những nhọc nhằn
      Hạnh Vân đã chọn hoa khoai, chọn chuyện đời thường để nói về tầm lớn lao nhân cách của lãnh tụ. Và “niềm ham muốn tột bậc” mà Bác từng thốt lên: “… đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (2) như lấp lánh trong những câu thơ. Những công bộc của dân thích xa hoa trong hưởng thụ phải chăng xa dân một giây một ngày thì cũng dần xa rời Đảng cần học bài học này: … con học Bác cách yêu một loài hoa phớt tím/ để tự đáy lòng mình/ cây bình dị/ trổ hoa.
     Ở bài Hoa dâm bụt trên đồi ATK, loài hoa dân dã luôn thắm đỏ ở dậu rào nơi làng quê Việt Nam, hoa râm (dâm) bụt lại nở trong thơ của  tác giả. Một bông hoa nở thắm chiều/một bờ xanh gợi thương yêu quê nhà… mướt xanh lá, lập lòe hoa/nhìn cây lại nhớ mẹ cha xóm làng… Nhịp thơ lục bát êm, đều mở ra khoảng tâm hồn người xa quê bao kí ức tuổi thơ về  đấng sinh thành, một ngọn núi, một dòng sông, một loài hoa quê nhà… Với cậu bé Côn – Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này là hàng dâm bụt trước ngõ, ven sân. Khi ở Tỉn Keo,  An toàn khu Định Hóa - Thái Nguyên Bác cho trồng hoa quê đỏ thắm cho vợi nỗi nhớ mẹ cha xóm làng. Trong thơ Hạnh Vân, hoa dâm bụt là biểu tượng cho tình quê nước trở thành sức mạnh, niềm tin mãnh liệt để Bác cùng lớp lớp chiến sĩ, đồng bào vượt muôn ngàn gian khổ giành lại Độc lập, Tự do đưa dân tộc đến ngày toàn thắng. Tác giả đã thành công với dụng ý chọn loài hoa gắn liền với thời tuổi nhỏ của Bác Hoa như bụt hiện giữa trần bình yên. Từ đó khái quát lên phẩm chất ngời sáng  của Bác yêu nước sâu đậm, nồng nàn và tận hiến đời mình cho quê hương để khắp trời Tổ quốc Việt Nam “hoa bình yên, hoa hạnh phúc” rạng rỡ thắm tươi!
                          Bác đi muôn dặm nẻo đường
                         vẫn nâng niu một sắc hương quê nhà
                         con về nơi Bác đã qua
                        thấy bình yên nở đóa hoa dịu lành…
       Sẽ trùng lắp và gây nhàm cho bạn đọc nếu cứ tìm đến với hoa, cho nên với bài Ngắm chân dung Bác Hồ từ dây lá buông Hạnh Vân chuyển cách thể hiện: khắc họa chân dung Người bằng thơ nhưng không từ chất liệu lụa là, đá quý cẩm thạch, hoa cương mà từ lá buông. Một loại lá mọc tràn vùng Căn cứ, Xuân Lộc. Cư dân nơi này dùng lá buông đan bện lợp mái, dựng vách nhà giờ thành nón lá, tủ khay, giỏ xách. Nghĩa là cũng từ  dân dã, quê mùa thần sắc Bác hiện sinh, Những sợi dây không rực rỡ sắc màu/quyện vào nhau thành chân dung Bác.
                     … nụ cười dịu hiền
                       ánh mắt bao dung
                       hình ảnh Bác từ sợi dây lá buông thêm muôn phần bình dị…
      Cùng với bài thơ viết về hoa khoai nói trên, bài thơ này Hạnh Vân đã biết tận dụng ưu thế của thể tự do, ngôn ngữ thơ giản dị (nhưng cũng cần chú ý nếu không vững tay cũng dễ lặp từ/sa vào dễ dãi)  để  xúc cảm tuôn dòng rồi lắng lại - nổi lên sự tài hoa khơi vầng sáng mới: 
                    … nghệ nhân lặng thầm thổi hồn vào sợi lá
                      bện yêu thương trong sáng tối những gam màu
                     chân dung Bác Hồ giản dị thanh cao…
                ... tác phẩm quê nhà lặng lẽ gợi bình yên.
      Đó chính là tình yêu Bác sáng lên ở phần kết bài, nhẹ nhàng gợi mở. Tình yêu Bác thấm vào tình cảm người đọc qua tình yêu của nghệ nhân, của con dân Đồng Nai miệt mài, lặng thầm làm nên sản phẩm nghệ thuật độc đáo, mang bản sắc của vùng đất miền Đông gian lao mà anh dũng, kiên cường (Trần Long Ẩn).
      3.   Chọn điều giản dị, đời thường, một nét yếu tính để làm rạng ngời, tỏa sáng một nhân cách của một bậc vĩ nhân như đã nói là một trải nghiệm cần thiết với người cầm bút. Tôi lại lan man nghĩ, khoảng cách xa – gần của dòng trôi nhân thế, thậm chí khoảng cách địa lí  trước một tầm vóc lồng lộng của danh nhân văn hóa thế giới, của một anh hùng thời đại, một đại thi hào… đi nữa có quan ngại gì miễn sao người viết thấu cảm bằng cả tâm tư, cõi lòng tri kỉ dẫu chưa từng tri diện. Nhà thơ Triệu Từ Truyền dựng lên trong thơ bằng ngôn từ rất riêng một huyền thoại bất tử về người anh hùng Che Guervara của xứ sở châu Mỹ La Tinh vời vợi mà chẳng hề lạ lẫm chút nào:
                               Che Guervara
                              Nhập thân vào hoang thú ước mơ
                              Huyền thoại hòa nhập vào nhau
                              Không phải lũ giết mướn
                             Chính hoang thú ước mơ
                            Nuốt mất Che Guervara… ( Người săn hoang thú ước mơ-  Tưởng nhớ Che Guervara )
 Nguyễn Việt Chiến, cầm bút làm thơ  sau Nguyễn Tiên Điền đến hơn hai thế kỉ vẫn “gặp” cụ ngồi “câu chữ” trên “sông văn, sông thơ” trong một đêm mưa:

                           Đêm mưa, gặp Nguyễn trên sông 

                           Đầu đội nón lá, chân không mang giày…

                          Sông văn chảy dọc cuộc đời 

                          Nguyễn ngồi câu chữ dưới trời mưa đêm…

                         

                         "Truyện Kiều" ông viết trong mơ 
                         Ngoài sông tiếng đập lụa như vẫn còn 
                         Lụa như trăng giặt chẳng mòn 
                         Nàng Kiều đêm ấy vẫn còn trên sông….
                                              (Gặp Nguyễn Du trên sông đêm)
             Những dòng thơ tự do/lục bát hay và đầy ấn tượng.
      Đàm Chu Văn cũng đã đánh giá như thế về tác giả trẻ  Hạnh Vân: “… có những tìm tòi, phát hiện để lại nhiều ấn tượng”. Nhưng theo tôi, ấn tượng mà tác giả toát lên từ thi phẩm của mình đã lặn vào trong tâm thức người thưởng thức ở tầng mức nông, sâu thế nào còn tùy thuộc vào tài năng, bút lực cả tâm thế thể hiện qua bút pháp, ngôn ngữ thi ca, kết cấu nội tại thi phẩm… mới là điều đáng nói. 
     Và tất cả những điều đó đang vẫy gọi người sáng tạo tiếp tục bứt phá tiến lên. Còn với  Hạnh Vân, theo tôi qua những bài thơ trên thật đáng mừng vì đã có “thu hoạch”  bước đầu đáng khích lệ khi viết về đề tài Bác Hồ. Như nỗi vui mừng, hồ hỡi của nhà văn Khôi Vũ viết về lớp trẻ cầm bút của Đồng Nai. “Vậy là mừng rồi. Mừng vì Đồng Nai có thêm một tác giả trẻ, tuy còn chưa định hình văn hay thơ là chính. Không sao, thời gian sẽ trả lời câu hỏi ấy thôi… Con đường văn chương dài đăng đẳng…” Tôi tin Hạnh Vân sẽ gặt hái những thành công mới ở lĩnh vực sáng tác khác, những mảng đề tài khác nữa (chị vừa in xong tập thơ đầu tay “Ru miền cổ tích”- nxb Hội Nhà Văn; chị còn là một cây bút truyện ngắn đáng chú ý trong thời gian gần đây, nhà văn Sương Nguyệt Minh -  thành viên Ban chung khảo cuộc thi truyện ngắn báo Văn Nghệ 2011 – 2012-  đã bày tỏ sự nuối tiếc những tác giả trẻ không đoạt giải trong đó có Hạnh Vân với hai truyện ngắn “Quán ven sông” và “Tổ ấm” ), như câu hát của nhạc sĩ Hoàng Vân, “ngày mai bắt đầu từ hôm nay”…                                                    
                                                       Biên Hòa, cuối tháng 5/2013
                                                                N.N.P

(1)  Vài gương mặt thơ trẻ Đồng Nai – Đàm Chu Văn, báo Đồng Nai ngày 23/2/2013.
(2)  Ý  theo nội dung bài báo  "Trả lời các nhà báo nước ngoài" của Bác Hồ trên Báo Cứu Quốc, số 147, ra ngày 21 -1 1946. "Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào… Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành….".

(3)  Cuộc điểm danh và tôn vinh một thế hệ viết văn trẻ và mới – Nhà văn Sương Nguyệt Minh trả lời phỏng vấn báo Văn Nghệ Trẻ.
Read more…

THƯ TÌNH VIẾT MUỘN - Đoản văn Nguyễn Nguyên Phượng

15:00 |
                                   


                                       ... hãy tìm về Tháng Tư,  đắm vào Tháng Tư. Huongquenha.com đã lên trang cách đây 2 năm - 29/4/2013. Tuần báo VN đăng in như là lá thư tình viết muộn gởi vượt trùng xa.

             Tháng Tư ngân nga. Những bông điệp vàng lung linh trên báo còn thơm mực in... Góc café chân núi Chứa Chan thoảng cơn gió mai hiếm hoi mát dịu sóng chiều lần qua phà Mỹ Lợi về xứ Gò năm xưa...
             Vậy mà cũng gần 6 năm, tôi và em vời vợi nửa vòng trái đất không thư từ gì cho nhau.  Năm 1980 chia biệt ở Mỹ Tho và từ đó biền biệt cách xa. Một buổi trưa bàng hoàng cứ ngỡ như mơ mà rất thực... Ơi  ngày xưa!  Hai mươi năm sau, tại sân trường ở vùng quê hoang dã Ông Đồn em cất công tìm đến.
             Cuộc hạnh ngộ trăm năm, Thượng đế như say vùi giờ chợt tỉnh?
             Ôi chếc áo màu xanh trời thuở đầu gặp gỡ... Ngồi bên nhau ở hồ Núi Le xao động hồn như sóng hồ lan nhẹ xa kia! Lại cùng nhau đếm phố Sài Gòn mà nhớ Gò Công, Mỹ Tho. Tháng ngày ngắn ngủi ở ngôi trường vùng biển những năm 75 -76... 40 năm chỉ còn là hoài niệm...
                                     Ta đâu là Phạm Thái
                                     Sao nhớ hoài Quỳnh Như
                                    Phương tình em xa ngái
                                    Đau đáu niềm tương tư.
              40 năm, em giờ ở phương trời xa lắc. Cõi nhân sinh, ta và em  thất thập gần kề. Bài viết mới đây "Tháng Tư, còn đó buổi ban đầu..." được Tuần báo Văn Nghệ. TP.HCM (số đặc biệt: Kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất Đât nước - 23/4/2015) đăng, dòng nối dòng có mái trường Trương Định, bạn bè, học trò, đêm diễn văn nghệ những ngày đầu Tháng Tư lịch sử... Và Em - ngày xưa rạng rỡ chẳng chút phôi phai.
             Em và ta hãy tìm về Tháng Tư,  đắm vào Tháng Tư. Huongquenha.com đã lên trang cách đây 2 năm (29/4/2013). Tuần báo VN đăng in như là lá thư tình viết muộngởi vượt trùng xa.

                                                       Tháng 5/2015

                                                        N.N.P (Đồng Nai)

Read more…

TỰ TÌNH THÁNG TƯ - Thơ Nguyễn Nguyên Phượng

15:00 |
                                    
    
                    (Lần về lại Văn Khoa, nay là trường ĐH. KHXH&Nhân Văn - TP Hồ Chí Minh)

                                     Thăm thẳm bốn mươi năm
                                     chốn cũ ta về
                                     tháng Tư huy hoàng trong điệu ve ran
                                     phố quen níu bước ngập ngừng
                                     tóc lau bồi hồi miền nhớ.

                                     Nhân Văn rộn ràng
                                     mắt biếc ánh cười tươi trẻ
                                     giảng đường - bầu trời rạng mới
                                     ơi Văn Khoa xưa
                                     bạn bè ta mười tám, hai mươi
                                     vẽ ngày mai nhọc nhằn trên từng trang dự tưởng
                                     mắt kẽm gai xô lệch câu Kiều
                                     khúc tình mơ ngạt hơi cay tao loạn
                                     suy tư bao chiều hố thẳm
                                     chênh chao cuộc thế dòng đời...
                                    
                                     Lận đận tan đàn
                                     như mây dạt xô phía ngàn vời vợi
                                     còn đó, dáng Cha lộng bóng đường quê vẫy gọi
                                     mấy trùng khơi vẫn về bên mái nhà Quê hương.
                                     Phút  trầm tư xứ người
                                     hoài dấu lang thang chiều Tự do/ hồn tan nhạc Trịnh
                                     thơ giăng bông tuyết
                                     thơm mực báo đăng bài đầu tiên - Thi sĩ !
                                     rẩy run cơn mưa Phú Nhuận buổi đêm tàn
                                     giọt café sông Sein
                                     thoảng hương me vỉa hè  Đức Bà, Nguyễn Du
                                     dịu ngọt mãi Sài Gòn.

                                     Hoài niệm mang khuôn mặt bể dâu
                                     chợt nhớ trải mình hai thế kỉ
                                     qua đò lịch sử nghiệm lẽ nông sâu                               
                                     nhân tình chẳng đợi mùa thay lá
                                     khát mơ ngày ấy -  những cánh hoa dầu bay xoay.

                                     Một thời cho một đời
                                     vòm trời ngọc bích
                                     đong đầy điệu xanh ve ngân.

   Tháng 4/2015
N.N.P (Đồng Nai)
                                                                         

                                                              
Read more…

NGÀY XUÂN ĐỌC LẠI BÀI THƠ "NHỚ BẮC" CỦA "THI TƯỚNG" HUỲNH VĂN NGHỆ - Tạp bút Nguyễn Nguyên Phượng

15:00 |

"Thi tướng" Huỳnh Văn Nghệ



                   

             1. "Thi tướng rừng xanh" và bài thơ "Nhớ Bắc"


         Cỏ hoa rộn ràng dâng hương, phô bày sắc thắm. Đất trời vào xuân, nõn màng tươi mới... Vần thơ, câu chữ trên từng trang dòng như những sinh thể ánh lánh nhiều điều. Bởi Thơ, Văn như con người luôn mang chứa một hành trình,một số phận. Chìm nổi/thăng hoa... Tất nhiên đây phải là những tác phẩm nghệ thuật mang tầm vóc lớn về nội dung tư tưởng, nghệ thuật làm lay động lòng người mến mộ trong nhiều chiều không - thời gian. 
               Bài thơ "Nhớ Bắc" của Huỳnh Văn Nghệ là một trường hợp như thế.
Chúng ta đọc lại thi phẩm và cùng ngẫm ngợi.

 Ai về Bắc, ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.
             
             Ai nhớ người chăng? Ôi Nguyễn Hoàng
            Mà ta con cháu mấy đời hoang
            Vẫn nghe trong máu buồn xa xứ
            Non nước Rồng Tiên nặng nhớ thương!

Vẫn nghe tiếng hát trời quan họ
Xen nhịp từng câu vọng cổ buồn
Vẫn nhớ, vẫn thương mùa vải đỏ
Mỗi lần man mác hương sầu
riêng...
  
            Sứ mạng ngàn thu dễ dám quên
           Chinh Nam say bước quá xa miền,
            Kinh đô nhớ lại xa muôn dặm!
            Muốn trở về quê, mơ cánh tiên.

Ai đi về Bắc xin thăm hỏi
Hồn cũ anh hùng đất Cổ Loa
Hoàn Kiếm hồn xưa Linh Quy hỡi
Bao giờ mang kiếm trả dân ta?

(Ga Sài Gòn, 1940)

         Tác giả Huỳnh Văn Nghệ (1914-1977), quê ở Tân Tịch, tổng Chánh Mỹ Hạ, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc xã Thường Tân, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Từ điển Wikipedia đã có những dòng tóm lược ấn tượng về ông: một nhà hoạt động cách mạng và là một chỉ huy quân sự Việt Nam, nổi tiếng về tài thi ca, có những câu thơ được nhiều người truyền tụng. Ông được Nhà nước  truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, vì những đóng góp trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Thật vậy, Huỳnh Văn Nghệ đã cống hiến trọn tuổi thanh xuân, tài năng, nhiệt tâm vì dân, vì nước. Trên bước đường cách mạng gian nan, ngoài phong cách bản lĩnh cầm quân giết giặc, ở ông còn dạt dào một tâm hồn thơ giản dị, chân thành hào sảng qua những tập thơ, những vần thơ gan ruột (Nhớ Bắc - bài thơ gan ruột - TC Văn học). Cuộc đời cách mạng, ý chí cộng sản kiên cường, tài năng thi ca của nhà thơ - chiến sĩ đất Tân Tịch - Tân Uyên đã làm giặc thù nể sợ, người dân vùng kháng chiến  miền Đông Nam Bộ quý trọng, tin yêu gọi ông là Thi tướng rừng xanh!(Tôi là người lăn lóc giữa đường trần,/Không phân biệt lúc mài gươm múa bút/Đời chiến sĩ máu hoà lệ, mực/Còn yêu thương là chiến đấu không thôi/Suốt một đời gươm chẳng ráo mồ hôi/Thì không lẽ bút phải chờ kiếp khác./Trên lưng ngựa múa gươm và ca hát,/ Lòng ta say chiến trận đến thành thơ…- Bên bờ sôngxanh - Huỳnh Văn Nghệ). Nhà báo Trần Ấm, nguyên phóng viên của TTXVN trong một lần đến thăm mộ ông trong nghĩa trang gia đình ở Tân Uyên bên dòng Đồng Nai đã bâng khuâng khi đọc hai câu thơ dưới ảnh chân dung Gửi lại bạn những vần thơ trên cát/Và giờ đây tôi qua bến, lên đường và lấy làm tiếc "Giá mà trên tấm bia mộ khắc thêm hai câu Từ độ mang gươm đi mở cõi/Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long". Bởi theo nhà báo, có hai câu thơ ấy " thì mới thật là... trọn vẹn nghĩa tình với đất Thăng Long ngàn năm văn hiến..., mới xứng danh một người văn võ song toàn của nhà thơ chiến sĩ đất thành đồng Nam bộ". Những câu thơ chan chứa niềm vọng quốc, tình yêu cội nguồn đất Tổ thiêng liêng của con dân đất phương Nam không chịu khuất đứng lên chiến đấu giữ gìn đất đai bờ vực mà 300 năm trước lớp lớp cha ông đã sơn trường khai phá, mở cõi.
         Đó chính là tâm tình mà Anh công nhân họ Huỳnh (Sở hỏa xa) gởi vào bài Nhớ Bắc (Tiễn bạn về Bắc)  vào một buổi chiều tại Ga Sài Gòn năm 1940.
 (Hiện có hai luồng ý kiến về thời điểm ra đời của bài thơ năm 1946 tại chiến khu Đ, nhưng tư liệu  của gia đình do người con trai trưởng - ông Huỳnh Văn Nam, nguyên TGĐ đài TH.TP.HCM cung cấp năm 1940 là đáng tin cậy).
        Một buổi chiều đặc biệt, có thể nói như vậy. Từ người đi/được vé tham quan xứ Bắc, nhường chuyến cho bạn vê cố hương,  Huỳnh Văn Nghệ trở thành người tiễn bạn. " Buổi chiều tà luyến lưu tiễn bạn, khi đoàn tàu dần khuất bóng cuối sân ga Sài Gòn, một cảm xúc man mác buồn cứ ngập tràn tâm trí người ở lại và hình ảnh về một chốn kinh kỳ đô hội, hình ảnh Tháp Rùa nghiêng bóng nước hồ Gươm, hình ảnh những chùm vải chín mọng lúc lỉu trên cành và những làn điệu dân ca quan họ mượt mà, đằm thắm... qua những câu chuyện kể của người bạn cứ thế ùa về. Và rồi, Huỳnh Văn Nghệ đã phóng bút viết nên những câu được nhiều người ví là “thần thi”. (Bđd - TC Văn học)

       2. Những câu "thần thi, tuyệt bút"...

        Tôn vinh như thế có quá lời không? Bởi những cụm từ, thần thi, tuyệt bút, hùng văn chỉ dành cho những tác phẩm có tính khái quát lịch sử, giá trị dân tộc - nhân văn sâu sắc, nghệ thuật mẫu mực giàu truyền cảm, hùng tráng như Thơ Thần - Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ - Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô Đại Cáo - Nguyễn Trãi, Cáo tật thị chúng - Mãn Giác Thiền sư, Thơ Trần Nhân Tông... Ở góc độ khác, tôi cho rằng những trang văn, dòng thơ chạm đáy tâm tình, nỗi khát khao, ước mơ cháy bỏng của đông đảo lớp người, của cộng đồng quyết đem sinh mạng của mình giành, giữ lấy sự tồn vong đất trời quê hương, cội nguồn tổ tiên thì chúng mặc nhiên trường tồn xuyên thời gian song hành cùng đất nước, dân tộc.
Vì thế,  nhà văn - nhà nghiên cứu văn hóa Trần Bạch Đằng đã hồ hỡi thốt lên khi nghe đọc khổ thơ đầu của bài "Nhớ Bắc", "Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là những câu Thơ Thần - tuyệt bút của thời đại". ("Thi tướng" Huỳnh Văn Nghệ và bài thơ "Nhớ Bắc" - Hoài Nguyễn). Ta hãy lắng lòng mình với  những dòng thơ ấy:
                              Ai về Bắc, ta đi với
                             Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
                             Từ độ mang gươm đi mở cõi
                             Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.
          Âm vang thiết tha, hùng tráng vừa bay lên vừa miên man, ngân nga. Nhiều bài viết đã xác tín xúc cảm khó phai ấy.
         "Những vần thơ hào sảng mà tha thiết cứ vang trong tâm tưởng người đọc tạo ra những cảm xúc vừa hùng tráng, vừa thiết tha như tan vào dòng máu đang cuộn chảy trong tim những người VN đầy lòng tự tôn dân tộc". (Bđd - Hoài Nguyễn).  Nhà phê bình văn học của đất kinh kì Hà Nội  Phạm Xuân Nguyên trên báo Văn Nghệ Trẻ  năm 2000 từng ghi nhận: "Tâm tư của nhà thơ đã thành tâm tư chung của muôn triệu người đất Việt phương Nam, hơn thế, của muôn triệu người đất Việt muôn nơi, mỗi khi nhớ về quê Việt tổ. Thăng Long đây không chỉ là Thăng Long kinh thành, đó còn là vùng châu thổ sông Hồng - cái nôi của người Việt, của dân tộc Việt".
        Tâm tình cội nguồn - hướng vọng Thăng Long quê Việt Tổ đã làm tỏa sáng những câu thơ của Huỳnh thi tướng. Không chỉ thế, nếu đặt chúng trong bối cảnh năm 40 thế kỉ trước, nước Việt bị giặc thù chia cắt, trong không khí bi tráng của cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa mà sát sườn hơn đặt trong thời kỳ "miền Đông gian lao mà anh dũng" những câu thơ như giấc mơ đẹp "giấc mơ chiến trận của những người dân chân đất đầu trần khát khao độc lập tự do..." (35 năm ngày mất nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ - Bùi Quang Huy) vv..vv.  Đó là lớp nghĩa dễ dàng nhận ra, thẩm thấu, cộng hưởng tâm tình dân nước nồng nàn của bao thế hệ Việt dưới trời Nam, cõi Lạc Hồng thậm chí những câu nguyên tác/ dị bản vẫn ngân ru như ca dao, dân ca của người Việt, dân tộc Việt...Từ độ mang gươm đi mở cõi/Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long - Từ thuở mang gươm đi giữ nước/Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long.
         Giá trị thần thi, tuyệt bút hoàn toàn được khẳng định. Điều đáng suy gẫm là từ dị bản, nhiều bài viết, bài phỏng vấn người con trai trưởng nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ của Tạp chí Văn Học, báo QĐND... cất công làm rõ thời điểm ra đời bài Nhớ Bắc, việc chỉnh sửa  (nhà thơ Xuân Diệu): những từ "độ"/"thuở"; mở cõi"/"giữ nước";  "Trời Nam"/"Nghìn, ngàn - năm" lại hé lộ một lớp nghĩa khác.
        3. "Trời Nam thương nhớ..."- âm vọng hào sảng chủ quyền
    Có thể nói, nguyên tác lẫn dị bản đều đậm chất văn học (Trời Nam/ Nghìn năm), đều đắt, đều hay đọng sâu và mở ra mênh mang tâm tình vọng quốc của lớp người con đất Bắc Nam tiến cũng như hiện nay luôn chặt lòng thủy chung son sắt với cội nguồn Rồng Tiên, Âu Lạc. Tuy vậy, so sánh nào dù tinh, dù khéo đến mấy cũng có độ vênh. Ta thử đọc xem sao:
"Trời Nam", dù muốn hay không thì khái niệm những người con xa quê cũng bị bó hẹp trong một vùng đất, một không gian nhất định. Trong khi đó "nghìn năm" mở rộng phạm trù xa xứ đến vô cùng đối với tất cả những ai mang trong mình dòng máu Lạc-Hồng dù ở chân trời hay góc bể" (Bđd - TCVH). Còn ông Huỳnh Văn Nam thì nêu lại những chia sẻ của cha mình lúc sinh thời, "... Từ "trời Nam" dùng ở đây ý nghĩa rộng hơn. "Trời Nam" không phải là sự bó hẹp về không gian mà là một sự khẳng định chủ quyền bất khả xâm phạm của người Nam đã được "thiên định" như  ông cha ta đã từng khẳng định trong Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo hay Nam quốc sơn hà. "Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long" - đó là tâm hồn, tư tưởng người Việt tự ngàn đời hướng về gốc gác giống nòi...Hồn thơ thức tỉnh những mơ hồ về Tổ quốc" (Bđd - TCVH). Đó chính là lớp nghĩa khác, lớp nghĩa cốt tủy của những câu thần thi: âm hưởng chủ quyền. Âm hưởng, hào khí 4000 năm "non sông giống Lạc Hồng/đất Thăng Long"  lặn sâu trong tâm tưởng từng con dân Việt, nay bừng dậy mãnh liệt, hào hùng hơn bao giờ. Âm vang của những Thơ Thần, Hịch, Cáo giục giã tự hào quyết xông lên giữ gìn chủ  quyền Trời Nam, nước Việt vẹn toàn Âm vang chủ quyền còn vọng vang hùng tráng trong những ca khúc đi cùng năm tháng của nhạc sĩ tài hoa Lưu Hữu Phước, Tạ Thanh Sơn...: Lên Đàng, Bạch Đằng Giang, Nam Bộ Kháng Chiến. Âm hưởng chủ quyền  hào hùng ấy còn lắng đọng ở cuối bài thơ:... Hoàn Kiếm hồn xưa Linh Quy hỡi/Bao giờ mang kiếm trả dân ta? Những câu thơ lấp lánh truyền thuyết về người anh hùng áo vải đất Lam Sơn - Lê Lợi được trao kiếm Thuận Thiên cùng hào kiệt, nhân dân đánh đuổi giặc Minh ròng rã hai mươi năm giành lại chủ quyền, Tổ quốc Trời Nam, nước Nam.
         Cũng chính vì vậy mà nhà văn Hoàng Văn Bổn, người đồng hương, đồng nghiệp, đồng ngũ thời kháng chiến chống Pháp với Huỳnh thi tướng, đã khẳng định: nguyên tác bài thơ của Huỳnh Văn Nghệ là "Trời Nam chứ không phải "Nghìn năm. "Trời Nam" mới đúng chất của anh Tám Nghệ. (theo Trần Ấm). Một ý kiến khác cũng chỉ ra điều đó: cần trả lại đúng văn phong, nguyên chất cho người sáng tạo những câu thần thi ấy.
         "... Có ba chữ hay bị đọc sai trong hai câu này: “độ” thành “thuở”, “trời Nam” thành “nghìn năm”, và nhất là “cõi” thành “nước”. “Cõi” đây là cõi giang sơn, vùng lãnh thổ, công nghiệp mở mang bờ cõi đất nước của bao đời tiền nhân, những con người ra đi từ sông Hồng đến lập ấp bên dòng Cửu Long. Biên tập sửa lại câu chữ như thế có vẻ làm câu thơ nghe mênh mang hơn, nhưng không hợp với tên bài thơ và nỗi niềm tác giả gởi gắm trong đó khi sáng tác. Và đặc biệt không tôn trọng nguyên văn một tác phẩm".("Trời Nam Thương Nhớ Đất Thăng Long" - Phạm Xuân Nguyên). Thậm chí " Cũng có người thì đề nghị thay hai chữ “mang gươm” bằng “mang cày” cho phù hợp với lịch sử khai khẩn ở phương Nam".( Con trai của "thi tướng" Huỳnh Văn Nghệ nói về bài thơ "Nhớ Bắc"- báo QĐND - Thanh Kim Tùng thực hiện phỏng vấn).
"Ý kiến"  này xin dành cho người yêu thơ thẩm định!
           Tôi lại cho rằng, không chỉ  "không hợp với tên bài thơ và nỗi niềm tác giả gởi gắm khi sáng tác"  mà còn làm mất đi âm hưởng chủ đạo, hồn cốt của nguyên tác. Đó là âm hưởng chủ quyền - hào khí, hào sảng Trời Nam, đất và người Nam Bộ, thành đồng Tổ quốc nguyện "hiến thân, liều thân cho nước" đau đáu vọng gởi, khát hòa hồn thiêng Thăng Long đất Tổ...
            Bài thơ "Nhớ Bắc" nhất là khổ thơ đầu đã từng là sách gối đầu giường, hành trang ý chí, khát vọng của những đoàn quân Nam tiến, của bao chiến sĩ vệ quốc thời kỳ chống Pháp, Nhật. Quả là hạnh phúc cho người cầm bút. Và những người mến mộ Huỳnh thi tướng cũng chung niềm hạnh phúc ấy vì những câu tuyệt bút trong trong buổi chiều đặc biệt xuất thần tại Sài Gòn 70 năm trước của tác giả đã trở về với nguyên bản và được khắc bia. (theo Thanh Kim Tùng)
          4. Vĩ thanh:Tháng năm chồng lớp tháng năm. Dòng đời thản nhiên trôi chảy... Huỳnh thi tướng đã "lên đường" vào ngày 5/3/1977 hoàn tất "cuộc đời như tác phẩm" (Triệu Từ Truyền). Tính đến nay đã hơn 30 lần giỗ của ông. Tụ về là những bậc cán bộ lão thành, các vị đương chức, đương quyền nhưng đông nhất vẫn là đồng chí, đồng đội của bộ đội Tám Nghệ đã từng sát cánh, chung lòng xông pha giết giặc. Và còn  có cả những dân thường đến viếng, hoài niệm ở nhà riêng đường Hai Bà Trưng - TP.HCM, ở nghĩa trang gia đình Tân Uyên - Bình Dương, ở Đồng Nai. Bởi cuộc đời của ông gắn lền với nhiều chiến công lẫy lừng, múa gươm vung bút giữa chiến trường miền Đông Nam bộ, oai hùng và  lung linh huyền tích, huyền thoại. Mà "huyền thoại nào cũng đẹp, huyền tích nào cũng hấp dẫn" (Bùi Quang Huy).  Và giữa những ngày xuân mới sang, trời phương Nam như lộng xanh hơn. Những cánh rừng chiến khu Đ, những vạt rừng Tân Uyên năm xưa rì rào hát. Dòng Đồng Nai như chậm trôi... lắng nghe vó ngựa Thi tướng sải nhịp cùng quân dân miền Đông ra trận. Những câu thần thi, tuyệt bút như lại thiết tha, vọng vang tâm tình nguồn cội Thăng Long đất Tổ, âm hưởng chủ quyền Trời Nam, Nước Việt muôn mãi vẹn
toàn.
                                   Ai về Bắc, ta đi với
                                  Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
                                  Từ độ mang gươm đi mở cõi
                                 Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long.

                                                   Lập xuân  2015   
                                                  NGUYỄN NGUYÊN PHƯỢNG

Tài liệu tham khảo: 
 (1)  "Người Bình Xuyên" - Nguyên Hùng,  "Huỳnh Văn Nghệ, Tác giả và Tác
phẩm" - Bùi Quang Huy.
  (2) Bài viết của các tác giả Trần Ấm, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Huy Hùng...; các bài phỏng vấn của TC Văn Học, báo QĐND...
Read more…