Trang Văn Thơ Việt Nam

ÔNG TỪ VÀ NHẠC TRỊNH - Tạp bút Nguyễn Thành Công

14:30 |
Nguyễn Thành Công

Ông sinh ở đâu, đã từng làm gì, và bây giờ có vợ con hay không… là một ẩn số, vì không nghe ông nói, mà thực ra ông rất ít nói.
Ông dầm mưa dãi nắng trên đường khi thì với xấp vé số trên tay, khi thì với cần xé bánh mì, và thùng cà rem với chiếc chuông leng keng len lỏi vào các xóm nhỏ là hình ảnh quen thuộc nhất, và ông gắn bó với nghề nghiệp này lâu nhất, cho đến khi vào một ngôi miếu.
Miếu ở ven đường, tất nhiên, xung quanh đầy cỏ dại. Vùng nước mặn và đồng bằng phù sa, nên hình ảnh cố hữu về một mái ngói cong vút uy nghi vươn lên trên một triền đồi, hay nhìn xuống một dòng sông uốn khúc, bên này đình miếu, bên kia trẻ nhỏ vắt vẻo trên lưng trâu… là không có. Miếu mà ông vào tá túc những năm tháng cuối đời như ốc đảo trên sa mạc, chỉ có nhiều nắng và gió. Lúc nào cũng nóng hầm hập, ngay cả khi những cơn mưa vội vàng lướt qua, trút xuống cũng chỉ làm vơi đi ít nhiều cái nóng. Gọi là ốc đảo vì trong khuôn viên kín đáo của miếu, người ta trồng rất nhiều cây, toàn những cây quý, lạ. Dân miền này làm gì biết đến những loại thực vật chỉ được nghe nhiều, đọc nhiều thôi: liễu, trúc quân tử…  Vậy mà ở đấy người ta trồng toàn những thứ đấy, tạo nên một chốn khác thường giữa một vùng nghèo túng, xác xơ xung quanh. Chánh điện xây trên một nền cao, nguy nga, theo kiến trúc cổ. Trong ấy, nội thất chạm chỗ cầu kỳ, tinh xảo dễ gây cho khách hành hương lần đầu một cảm giác choáng ngợp. Và người ta tạo nên suối nhân tạo với tiếng suối róc rách hòa lẫn trong tiếng nhạc Phật giáo ngân vang…
Còn nữa, bên này là Đông lang, bên kia Tây lang, và sau rốt là hậu liêu, sau hậu liêu là một cái ao to với cá vàng lững lờ …
Đấy, ông vào chốn ấy cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời. Sáng quét dọn cái sân rộng, chiều quét dọn chính cái sân ấy, và tưới tẩm các loại cây cảnh trong sân. Vệ sinh các kham thờ, việc thiêng liêng này ông làm khi đã xong các việc kia, ngoài sân.
Miếu rộng thế, một không gian mênh mông  mà chỉ có một mình nên lạnh vắng một chút. Tiếng niệm Phật từ chiếc máy nhỏ vang vang suốt ngày đêm khiến ông tìm được chút hơi ấm, thấy bằng an rất nhiều.
Và như thế, như thế, nhiều năm, những gió bụi cuộc đời lặng lại, lắng lại, ông đã tịnh tâm, nhớ ra, nghĩ tới nhiều điều. Như một tảng băng vỡ, ông bỗng nói và nói nhiều về những gì đã qua, người ta ngạc nhiên nghe, rồi dần dần thích nghe ông kể. Từ chỗ lặng thinh, ông nói đầy đủ và rõ ràng về mọi sự đã đến với mình trong bao nhiêu năm gió bụi. Ông sinh ra ở đâu, nhà nghèo như thế nào, tại sao lại lang thang như thế… Câu chuyện hấp dẫn được thuật lại của chính người trong cuộc, khiến ai nấy cũng bị cuốn vào. Chiều tối, người ta tụ lại nghe ông nói. Rồi có người mua trà, uống để thức mà nghe. Ông kể về cái nghèo của hơn bảy mươi năm trước, phải lấy vải tang mà mặc. Ông đi học, ừ, ông cũng được đi học, với chiếc quần cộc. Và người cha tội  nghiệp đứng ngoài đường nhìn vào, tựa gốc cây. Đấy là khi ông vào một kỳ thi. Ông học, và ông là người duy nhất được học trong một gia đình đông anh em. Ông mơ được làm thầy thông thầy ký…
Chiến tranh, một cuộc chiến dài như không dứt. Ông lăn lộn trong ấy. Một cái chân khập khiễng là kỷ niệm của chiến tranh để lại, cho ông.
Ông làm nhiều nghề để sống, có những nghề cao quý và những nghề ngược lại. Có nhiều vợ, có người vợ cao quý và ngược lại. Khi thì ông là tài xế xuôi ngược trên đường thiên lý, khi thì bán buôn hàng lâm sản tận cao nguyên. Có khi có rất nhiều tiền, có lúc không một đồng xu, thấy người ta hút thuốc mà thèm lắm. Như vậy đấy, một cuộc sống vô định cuốn ông vào. Làm ăn thất bại, rời thành phố, ông về nông thôn cày cuốc, khi có chút gì đấy, ông lại ra thành thị, rồi lại về nông thôn khi trắng tay… Cuộc đời ông rốt cuộc không có thu hoạch gì, về mọi thứ. Vợ con tứ tán, còn ông, một mảnh giấy tùy thân lộn lưng cũng không có. Già rồi, ông thả xuôi theo dòng chảy và cũng là một vận may khi ông được “cuốn” vào miếu, một chốn thanh tịnh. Trí nhớ không buông tha ông, ông tự nhiên học và thấm lời Phật khi quán tưởng lại tất cả, thấy hình như Phật nói đến mình ở chuyện này chuyện này. Người ít học như ông lại học Phật nhanh đến thế. Ông có thể nói vanh vách về nghiệp, về luân hồi, về lý nhân quả… và hấp dẫn người nghe ở chỗ ông lấy chính dẫn chứng của cuộc đời minh ra để chứng minh lời Phật. Một ông lão như thế, trong một ngôi miếu như thế, nói lời Phật bằng chính cuộc đời mình, sao mà không nghe? Và người ta nghe ông, thấm lời ông cho dù ông chẳng phải là tỳ kheo, cũng không qua một trường lớp Phật pháp nào.
Mười năm cuối đời ông lão bán cà rem ở đấy, yên ổn, hạnh phúc, đủ đầy. Người ta thương đem trái cây cho ông ăn, người ta cúng Phật, cúng Thần song để hết lại cho ông gọi là lộc, người cho ông quần áo… Nói chung, cũng là sự công bằng. Một bài văn ngổn ngang chữ nghĩa không đọc nổi, cuối cùng cũng có một cái kết an bài.
Ông ra đi vào một ngày mưa (sao lại là ngày mưa?). Đoàn người dài dằng dặc tiễn ông. Lạ là không có nghi thức Phật giáo, vì chỉ là cái miếu, và như đã nói, ông cũng chẳng tu tập bài bản ngày nào… Người ta thuê một đội kèn Tây đông đúc từ… nhà thờ Công giáo, và họ đến trong trang phục trắng  tuyệt đẹp như trong một nghi thức ngoại giao trọng đại nào đấy. Ước nguyện cuối cùng của ông được đáp ứng: đội kèn tây tấu lên bản nhạc bất hủ của Trịnh Công Sơn “Một cõi đi về”.
Vâng, ông lão đã kết thúc cuộc chơi vào một ngày như thế, có mưa và có kèn tây. Những người quen biết ông, từng nghe ông kể chuyện đời mình như thuyết pháp, đã khóc khi nghe những giai điệu thê thiết của nhạc sĩ họ Trịnh.
Vâng, “Bao nhiêu năm rồi còn mãi đi đâu, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt, trên hai vai ta đôi vầng nhựt nguyệt, rọi suốt trăm năm một cõi đi về”…
Vâng, chuyện là thế, về một ông Từ…

N.T.C (Bạc Liêu) 



Read more…

NÂU, ĐEN VÀ CỐC NƯỚC VỐI - Tản văn Nguyễn Thành Công

14:31 |



Tôi vừa có chuyến vân du đất Bắc gói trong một tuần lễ, cưỡi ngựa xem hoa từ thủ đô lên miền Đông Bắc, là thì có lạ…
Đầu tiên xin kể về cà phê, món ruột thân thiết với tôi hơn cả. Ở quê, sáng sáng ra quán cóc gọi tách cà phê nóng thành lệ, lên Sài Gòn thấy cũng thường cho dù gu dùng cà phê có chút khác biệt ở sữa ít hay nhiều một tí, và tất nhiên, giá cả. Đi xa, có thể gói ghém tiền nong ít mua sắm quà vặt ăn xài, nhưng tự thưởng cho mình một chầu cà phê ngon cũng thật hay. Ở Thủ Đức, ngồi nhâm nhi nhạc trữ tình, vừa nhìn từng giọt đắng tí tách rơi từ cái phin xinh thấy lòng  nhẹ lắm. Trước bưu điện Bạc Liêu cổ kính sáng sáng ngồi đọc nhật báo mới tinh, ngoài đường xe cộ xuôi ngược ồn ả, cùng các cụ cao niên chia sẻ tách cà phê nóng bình dân thú lắm. Miền cuối đất Cà Mau, đến phường 5, vào đường Châu Văn Đặng, lần lượt thăm chùm cà phê vườn Thôn Vỹ, Thủy Mộc, Chuông Gió có nhiều trong một: thiếu nữ điệu đà, nhạc hay, cảnh đẹp và cà phê ngon… không gì bằng.
Nhưng đất Bắc có khác đấy. Qua mấy tỉnh khái quát nhìn thấy  nhìn chung “người ta” không mặn mà với thú uống cà phê như trong Nam. Ở thành phố Uông Bí buôn bán khá sầm uất song quán cà phê không dày như ở miền Tây, không ngay phố, có khi đi vất vả để có tách cà phê mà lại pha chế không hợp khẩu vị. Đấy là ở tỉnh xa, thủ đô cũng có nét như vậy cho dù cà phê ở phố sách Tràng Tiền có nét riêng, tinh tế trong bày trí đơn sơ song chủ ý rõ rệt ở gu nghệ thuật của chủ nhân. Gọi tách cà phê đen pha phin, sảng khoái thưởng thức sau mấy ngày “đói” chất đen khi lang thang miền Đông Bắc. Nhưng bạn có tin không, nếm xong tách cà phê không thấy “người ta” đá động đến trà nóng, phải gọi! Mình cứ ngỡ cà phê- trà (chè) là đương nhiên, lại phải gọi riêng! Cà phê văn phòng trong một chung cư ở Hà Đông ổn lắm, nhưng bất ngờ chính là khi mang va li ra nhà ga sân bay Nội Bài chờ chuyến bay về Cần Thơ, gọi tách cà phê thay vì ấm chè lại là... cốc nước vối! Lên máy bay hỏi chuyện một cụ bà, mới hay nước vối ngoài ấy phổ biến, có vị thuốc, lạ… Về chè (trà), được thấy cảnh người ta bán ấm chè nóng với giá bình dân lắm. À, còn chuyện này nữa: ở Ba Đình, khi gọi cà phê, chủ quán thường hỏi: dạ, anh uống nâu hay đen? Nâu tức cà phê sữa và đen tức là... cà phê đen! Hi hi..
Đi, về bằng máy bay của hai hãng khác nhau, được mời loại cà phê “công nghiệp” nhạt thếch. Sáng đầu tiên về quê, ra quán quen nhâm nhi cà phê xứ nhà, thấy ngon lạ…
Đấy, cà phê du ký…

N.T.C (Bạc Liêu)
Read more…

NGẪM CHUYỆN XE CỘ SÀI GÒN - Tạp bút Nguyễn Thành Công

15:00 |


Tôi có bạn thân trên Sài Gòn, lên xuống mấy bận thăm viếng nhau. Với tôi, mỗi chuyến  đi thành phố để lại nhiều khơi gợi nhất trong lòng chính là chuyện xe cộ.

Sài Gòn nhiều xe, lưu lượng dày lắm. Tỉ lệ xe gắn máy quá cao tạo nên bức tranh giao thông  không như những gì mà dân quê thấy trong phim ảnh về các đô thị đầy xe ô tô ở... nước ngoài, trật tự, lớp lang và... sang trọng. Đủ lại xe máy lưu thông, đời mới đắt tiền sành điệu chen với xe cà tàng mấy trăm nghìn trông cứ như hiện vật trong bảo tàng. Xe chạy êm như ru cũng có, mà inh ỏi điếc tai nhức óc, khói đen mù mịt cũng có, rối tung rối mù cả lên.

Tôi không dám đi bộ qua lộ! Và ngồi cho bạn chở cũng hồi hộp và căng thẳng lắm. Không quê lắm vì đã từng đọc bài viết đăng trên báo nước ngoài (cụ thể là Italia) kể lại tâm trạng của dân chơi trên đảo Xisin lừng danh mà đến Sài Gòn cũng thót tim khi mục kích cảnh xe cộ ở đây, huống là tôi- dân quê chính tông miệt đồng. Thấy tôi ngồi sau long ngóng không yên, anh bạn tôi- một phóng viên nhật báo- trấn an: anh cứ để em, thấy nó rối loạn như vậy chứ cũng có trật tự của nó. Nghe xong, tôi à một tiếng: hèn gì người ta vẫn cứ sống vô tư với những dòng chảy khủng khiếp như vậy năm này qua tháng khác, không việc gì hết, thậm chí có người còn nhận xét: tai nạn giao thông trên Sài Gòn còn ít hơn ở quê. Lời trấn an của anh bạn có ép phê, tôi tin tưởng ngồi để anh ấy làm xiếc trên đường đưa tôi về nhà mình trong một con hẻm rất xa tòa soạn.

Lần khác đi chơi cùng bạn gái, cũng là một tay lái lụa. Bạn... đèo tôi (chứ không phải ngược lại) trên một chiếc xe tay ga còn mới, và phóng như bay trên đường. Sài Gòn có những ngõ hẻm chằng chịt như bàn cờ, vào rồi không nhớ đường ra, tay lái cứ dao động như tay chèo khi len vào chợ nổi đông nghịt xuồng ghe. Đi đến nơi, xuống xe, mồ hôi ướt đẫm áo vì... sợ! Lần sau lên thăm bạn, cô ấy bận việc cho nhân viên đón. Cũng cung đường như cũ, song tay lái này mất thời gian gấp hai gấp ba để đến đích, cứ lòng vòng suốt. Đến nơi, tôi than xa, cô bạn cười cười: em biết rành đường, từ bất cứ địa điểm nào cũng có thể cắt đường để chọn hành trình ngắn nhất, còn em nó (người nhân viên) không rành nên chọn một hành trình mà cậu ấy nhớ được, nếu anh thay đổi địa điểm đi- đến, cậu ấy sẽ chở anh về chỗ xuất phát quen thuộc rồi mới vòng vèo tìm đường theo trí nhớ của riêng mình, gấp đôi là hên đấy, có khi còn hơn. Tôi lại à một tiếng, hèn chi. Người ta chọn đường vòng đơn giản vì không biết cách đi đường ngắn nhất, họ phải đi theo cách riêng mà họ biết, gấp đôi gấp ba là chuyện bình thường. Chuyện xe cộ cũng hay, có khi còn có thể liên tưởng đến nhiều chuyện khác trên đời.

Đấy, “thu hoạch” của tôi trong mấy lần thăm thú Sài Gòn là như thế: trong hỗn loạn cũng có trật tự của nó, cũng như bức tranh chi chít vì sao trên trời cao thực ra đều chuyển động theo quỹ đạo ổn định, nếu không thì tung vỡ do va chạm. Mà để có trật tự ấy, vũ trụ đã diễn ra những va đụng nổ tung rất nhiều, sự biến mất, thay đổi và hình thành rất nhiều hành tinh, tiểu hành tinh. Trật tự vũ trụ chính là kết quả có được sau những va đụng sắp xếp trong một lịch sử dài. Còn cô bạn tôi thì lại cho thấy nguyên nhân của đường vòng và đường thẳng chỉ là do hiểu biết của người cầm lái, không thể cắt đường đi tắt đón đầu tiết kiệm nhiên liệu và thời gian mà phải long vòng quay lại từ đầu, dò dẫm một hành trình dài gấp mấy lần đơn giản chỉ vì không rành đường. Mà đường Sài Gòn, như đã nói, cứ như bàn cờ vậy, có phải chuyện chơi đâu…

N.T.C (Bạc Liêu)

Read more…

THẢO - Tản văn Nguyễn Thành Công

15:00 |


Thị trấn nhỏ song có nhiều trường học, từ xa xưa. Sông cũng nhiều và tất nhiên, cầu cũng lắm, suốt ngày có lộng nắng gió miền cuối đất.
Tôi thường bắt xe buýt xuôi ngược những chợ gần chợ xa vì công việc tìm hiểu thị trường bảo hiểm, cực nhọc lắm. Xe luôn có bóng đồng phục học sinh dù là xuôi hay ngược, có em đi học chính khóa, rồi học thêm, đi văn nghệ, thể thao… Ngồi cạnh mấy nhóc chuyện vãn còn gì bằng, cứ như được sống lại thời hoa phượng đỏ của chính mình, cái thời gian khó  nói ít ai tin và làm gì có xe buýt rẻ như thế để đi...
Bận nọ lên xe như thường lệ, thấy một bé gái nước da đen giòn cặp sau lưng, tay với móc thòng xuống từ thanh ngang, chật vật vì chen chúc trong đám đông toàn người lớn. Tôi bắt chuyện với em, cô bé vui vẻ lễ phép trả lời, em mô tả nơi em ở bên kia sông, sau những rặng dừa nước và mắm, lác đác nhà tranh và vuông tôm mênh mang phía sau. Đến nơi, tôi xuống trước sau khi đã trả tiền cho em, cô gái lí nhí cảm ơn và nhìn theo tôi…
Đấy là một nhân duyên. Trong bộn bề lo toan của cuộc sống, xuôi ngược tất bật ngày này qua ngày khác, gặp bao nhiêu là người lạ người quen song thấy em bé gái ấy tôi lập tức nhận ra và cả hai cùng mỉm cười chào. Thành thân vậy đó.
Đâu hơn năm rồi, trưa nay dắt xe đạp qua cầu, dừng lại cùng đám đông nhìn trụ bảo vệ dưới sông bị xà lan đâm đổ gục trơ sắt thép giữa dòng nước mặn chảy xiết, chợt thấy bé gái đi ngang qua chầm chậm, tôi cười và cô bé cũng thế, tôi chợt hỏi:  Con tên gì? “Dạ con tên Thảo”, “lớp mấy vậy con?, “Dạ, lớp 6”, à- có bé Thảo làm học trò ngay ngôi trường ngày xưa tôi học. Vậy, hơn năm, cuối cùng tôi biết tên cô bé. Thảo chắc nghèo lắm, quần áo giản đơn giữa thời tuổi teen đua đời thời trang và đủ đầy, em không có xe đạp vì đoạn đường ấy có xe đạp dễ đi đứng hơn bắt xe buýt nhiều. Cô bé người dân tộc Khmer với nước da đen giòn và ánh mắt trong veo… Tôi nói trước khi bước đi: “con ráng học Thảo nghe”, “Dạ!”. Em cắm cúi mang cặp qua cầu lộng gió miền cuối đất, tôi dõi mắt theo…
Tôi đã có người thân thiết trong dòng chảy suối người của đời sống miền này, nơi nhiều nắng gió…

N.T.C (Bạc Liêu)
Read more…

NGHE LỜI PHẬT TRONG NHỮNG NGÀY NẮNG NÓNG - Tản văn Nguyễn Thành Công

15:00 |


Phiền não tức Bồ đề, chính bi kịch cuộc sống hướng tôi đến ánh sáng Phật pháp. Chưa hề được tham dự một khóa tu nào, cũng không có cơ duyên được thỉnh giáo những bậc chân tu cao minh, lời Phật đến với tôi chủ yếu từ những quyển kinh – luật – luận có may mắn được đọc, song thấm thía nhất, “ngộ” nhất chính từ cơ hội được gần những người có tâm, hiểu Phật pháp trước, hay những dịp được vãn cảnh chùa.
Hôm qua là một ngày mệt mỏi song rất vui Nắng nóng quá, quốc lộ 1 chói chang. Vậy mà tôi đạp xe đúng 32 cây số mỗi lượt để viếng mấy cảnh chùa. Không khí Phật Đản qua cờ xí thấy ở khắp nơi, chùa chiền được làm mới, sạch sẽ, thanh tịnh. Mỗi ngôi chùa dừng một chút, chắp tay lạy Phật, ngồi nghe các sư chỉ giáo, vậy mà về ngẫm lại thấy bao vấn đề vốn rối gắm nay đã được tháo gỡ. Vị Đại Đức ở ngôi chùa đầu tiên kể lại một câu chuyện: vị học giả nọ cái gì cũng biết, tự đại lắm, có khi thốt lời xúc phạm Phật pháp. Đại Đức hỏi đúng một câu: trong “cái gì ông cũng biết” có cái gì của ông không hay toàn từ sách vở, tri thức của người khác. Vị học giả ngẩn người. Đúng, cái biết máy móc có khi biến người tab thành cỗ máy ghi âm chính hiệu, máy móc đọc- nhớ- nói mà không nhận ra đấy toàn là tri thức của thiên hạ, mình chưa tự nghĩ được gì, chưa có phát hiện gì, đâu có lý do để mà ngãn mạn như thế. Câu chuyện hay, vì biêt đâu ta có khi cũng như vậy thôi. Phật bảo chúng sinh tự đốt đuốc mà đi, làm sáng hạt ngọc trong chéo áo, đánh thức cái mình sẵn có, chứ không hề nhồi nhét cái biết bên ngoài, của người khác vào đầu, thành “học giả” chứ không phải..học thiệt!? Thấm lắm. Đấy là “tiết học” thứ nhất, ở ngôi chùa thứ nhất. Ở ngôi chùa kế tiếp, thay vì ngồi tiếp khách, vị Chủ Trì lăng xăng mình trần hết khuân lại vác nước suối, rồi lau chùi quét dọn luôn tay, khách tự ái ngại. Nhưng từ giã rồi mới tự hỏi: đấy là cách tu đấy thôi, mỗi người có con đường riêng, kinh điển cũng từng nói đến. Ở ngôi chùa thứ ba, vị sư trẻ đạo mạo nghiêm trang gần như không nói gì hết, minh xin phép chụp một loát ảnh cảnh thanh tịnh, nhưng ngôn ngữ của chốn Bồng Lai chẳng phải mang nhiều thông điệp đấy sao? Ở ngôi chùa cuối cùng “tiết học” đau đầu hơn, nơi ấy có nhiều thị phi lam rối nhiễu người tu và Phật tử, chuyện đời xen nhiều vào Đạo với lắm chuyện khó tin, chỉ đọc chỉ nghe đã sốc. Không ai nói gì nhiều, duy vị tiếp tân nhắc đi nhắc lại: nhân – quả mà thôi. Đúng, thị phi cũng là nhân quả, không có gì ở ngoài nhân quả.
Đường về cái nắng không vơi, dừng ở một am tự vắng lặng. Vị Trụ trì trẻ cũng luận về thị phi như là cái gì tự nhiên, đương nhiên phải chịu, muốn tu phải vượt qua miệng lưỡi người đời, an nhiên tự tại, chuyện đời để đời giải quyết, người hư chứ đạo không hư. Nghe mà nhẹ lòng. Thỉnh một máy niệm Phật, về đến nhà mệt mỏi, giấc ngủ chìm trong tiếng Nam mô a di đà Phật. Một ngày học Phật trên đường, thu hoạch cũng nhiều. Mà ngày xưa Phật chỉ giáo chúng sinh cũng đâu có trường lớp gì đâu?

Học ở trên đường. Hè nắng quá…

N.T.C (Bạc Liêu)
Read more…

MỘT CON ĐƯỜNG CÓ MỘT DÒNG KÊNH - Tạp bút Nguyễn Thành Công

15:00 |



Tôi có cô bạn gái quen qua mạng, tâm sự nhiều lắm. Cô ấy quê ngoài Trung nên có giọng nói đặc biệt dễ thương, bật điện thoại lại cảm nhận ngay sự ấm áp, cảm thông từ chất giọng, mà nào chỉ có thế, cô ấy rất có tấm lòng.
Quen lâu, sắp xếp mãi cũng được một chuyến đi “Nam tiến”, cô lỉnh kỉnh tai nách xách mang thăm bạn. Ngày đấy thật vui, hai chúng tôi đèo nhau thăm thú khắp vùng đồng bằng sông nước. Chợ cá đắp ắp hải sản nước mặn, ghe thuyền dập dềnh trên sông thơi thả lục bình trôi, đồng lúa, vịt đàn... với cô ấy cái gì cũng lạ hết, hỏi suốt, tôi mệt nhoài song thấy vui vì cũng... lạ! Nhờ cô ấy mà tôi “phát hiện” quê mình hấp dẫn đến vậy, lung linh...
Chia tay, cô bạn đúc kết chuyến du lịch bụi bằng đúng một câu “một con đường có một dòng sông, một cái nhà có một cái ao”, nghe xong cứ ngớ ra, rồi hiểu chút chút. À, đúng rồi, xứ này đất mới, người ta múc đất làm đường, xong một con đường lại đồng thời có ngay một con kênh! Ở nông thôn cất nhà mới cũng vậy, lấy đất đắp nền, được cái nhà cũng đồng thời có cái ao dùng! Vậy mà tôi không nhận ra, bạn hay thiệt đó!
Nhưng hiểu như thế tôi vẫn không thấy thỏa đáng, lấn cấn hoài trong lòng. Mỗi lần nghĩ đến cô ấy ở nơi xa, tôi lại ngay lập tức nhớ đến câu nói của cô mà mình chưa giải mã hết được, cái hiểu hình như chỉ mới bóc lớp vỏ bên ngoài, nội hàm sâu xa chưa thấy được...
Cô ấy là một trí thức, làm khoa học xã hội đã lâu, nghiên cứu nhiều và trải nghiệm cũng lắm, người như thế ăn nói sâu sắc là chuyện thường. Cô thường trăn trở với tôi về sự được mất ở đời, những đa đoan vô thường trong đời sống, những khúc quanh lịch sử kẻ cười người khóc, những bài toán xã hội không thể giải nổi... Nỗi lòng người phụ nữ ấy đau đáu về cái chung.
Rồi bỗng một lần tôi tự nhiên vỡ òa ra: À, chắc là cô ấy muốn nói rằng “không có cái gì tự nhiên mà có, phải mất cái này mới được cái kia; nếu không đào lấy đất đến thành con kênh đào thì đất đâu để làm một con đường? Vừa vặn lấy cái này xây cái kia. Tương tự, không đào một cái ao thì đất đâu đắp một cái nền? Đất từ cái ao và nền nhà vừa vặn bằng nhau, đương nhiên. Tôi gửi mail hỏi, cô ấy cười: anh cũng hay thiệt đó! Vậy đúng rồi... Lý luận này phổ biến cho nhiều sự ở đời: chăn hẹp đắp chung hai người, người này ấm áp thì người kia chịu lạnh, vậy thôi. Nhớ có dạo tuồng cải lương người ta người ta ý tứ mở màng ra là thấy hai biểu tượng kẻ cười người khóc, và xuyên suốt vở tuồng xoay quanh biểu tượng ấy, dược mất vần xoay, kẻ được thì cười, kẻ mất thì khóc.
Nhớ một dạo đi xin xăm ở miếu thấy chuyện mắc cười: người người náo nức khấn nguyện xin ơn trên cho trúng số đề, rồi nhà thầu cũng đến thành tâm khấn mong ít có người trúng! Thành ra nghĩ như vầy: thánh thần chắc cũng khó giải ổn thỏa nan đề này, cho người này thì phải lấy bớt của người kia chứ ở đâu ra? Ngẫm mà buồn lòng chuyện đời dâu bể...
Ai ơi được lộc trời hãy có chút lòng trắc ẩn nghĩ đến người bất hạnh nhường phần may mắn cho ta... Đấy chính là lý nhân – quả đó mà.
 Để có một con đường người ta phải đào một con kênh...

N.T.C (Bạc Liêu)


Read more…

NHỮNG LÁ THƯ TAY TRONG THỜI @ - Tạp bút Nguyễn Thành Công

15:00 |


Trong thời buổi phổ cập điện thoại di động và internet, những cánh thư tay trở nên hiếm hoi. Bước tiến vũ bão của khoa học kỹ thuật có vài tác dụng phụ, những cánh thư vơi đi khiến người ta bùi ngùi… Những e-mail tiện lợi vô cùng, những tin nhắn nhanh như chớp, những cuộc gọi thực hiện dễ dàng mọi lúc mọi nơi … để lại một khoảng trống gì đó trong lòng, khao khát hơi ấm xưa cũ mới qua từ những dòng chữ nắn nót chân phương của những cánh thư đậm tình bè bạn, e ấp yêu thương, vỗ về an ủi… Nhiều lúc thèm làm sao hình ảnh anh bưu tá đến tận nhà gọi tên, mở cặp lấy ra cánh thư đẹp với con tem xinh xinh, vậy mà lâu lắm không thỏa được. Cứ như bước đi mà cứ ngoái lại, nhìn với lại, trong khi trong lòng vẫn hiểu tiến hóa là như thế như thế…
Hạnh phúc thật giản dị biết bao. Bệnh tật, cô đơn, đọc bài báo của một bác sĩ xa xôi viết cảm động lắm, thế là gửi thư xin tư vấn. Một cánh thư đầu thấu hiểu được viết nắn nót chân phương gửi về như phương thuốc chữa lành cơn bệnh trọng. Đọc, ngồi đọc, nằm đọc, ấp êm lá thư trong cặp, rồi lại đem ra… Bao nhiêu năm rồi mới nhận được một cánh thư! Bệnh cứ như không cần thuốc chữa, bớt dần bớt dần… Kinh nghiệm ấy trở thành vốn sống quý báu. Bữa nọ có cô gái làm nhân viên nhà sách lớn, có quen sơ, ngày tết nhứt mà gọi điện khóc nấc, mình bối rối làm sao. Tình chú cháu không một bợn nhơ, cầm bút viết một cánh thư gửi đi ngay lập tức, thay vì gọi điện an ủi. Vậy mà hay, cô ấy bỏ ý định dại dột, nay cứ nhắc lại hoài.


Đấy, những cánh thư quý như thế, ấm áp nghĩa tình như thế, công nghệ không thay thế được. Sáng nay lội bộ mang sách tặng ông giáo già, thầy lục lọi tìm cây bút yêu cầu trò ký tặng, rồi xem lại, mỉm cười… Mình coi đấy cũng là một “lá thư" nho nhỏ sưởi ấm lòng thầy, những dòng chữ mang đến hạnh phúc cho người ta. Ra về mà thấy xôn xao xôn xao như được sống lại một thời bút viết bảng đen, với thầy…

N.T.C (Bạc Liêu)
Read more…

ĐÃ TỪNG CÓ MỘT TÌNH YÊU - Tạp bút Nguyễn Thành Công

15:00 |


Em đẹp lắm: mái tóc dài óng mượt đen nhánh, dáng cong, nước da trắng và đôi mắt sâu lay láy ẩn chứa biết bao ngôn ngữ không lời. Nhà khá giả, ở quê mà lầu cao, tiện nghi không thua thị thành. Đất nhiều, kinh doanh phát đạt, mẹ em có cơ ngơi cao ngất ở tuổi vẫn còn trẻ lắm, và em lớn lên trong hoàn cảnh ấy, thuận lợi, hanh thông.
Em học khá, ngoan hiền, hết phổ thông lại lên thành phố học đại học. Học, và chỉ có học, nhân dáng người con gái đồng quê thanh thoát mất hẳn vẻ tảo tần lam lũ cố hữu của một vùng, đẹp, lại hàm sâu duyên.
Tốt nghiệp đại học, em về quê nhà công tác trong một cơ quan địa phương khi mác cử nhân chính qui hãy còn hiếm hoi ở vùng đất tận cùng này. Tình xưa nối lại, em yêu người con trai đeo đuổi mình thời học phổ thông như một lẽ tự nhiên. Nàng là công chức máy lạnh, chàng chỉ là trai quê cần lao trên đất nhà quanh năm suốt tháng. Anh đen hơn xưa, song ánh mắt sang và cương nghị giữ được thần thái người có học ít nhiều, chính vì thế mà em yêu?
Một tình yêu như bài thơ, hay một bản nhạc, có điều ngắn quá. Em tiên liệu được tình yêu, và chàng cũng thế, họ nhìn thấy đường đi theo lối mòn của cuộc đời: hèn sang, giai cấp. Họ yêu thuận theo con tim, khối óc tinh khôn vẫn dự đoán được kết cục. Một năm quấn quýt, san sẻ, hiến dâng và, hết. Một tình yêu trọn con tim, một tình yêu đầy dâng hiến không chút toan tính, không trải bụi trần. Tất yếu: thân mẫu em biết, quyết liệt và khôn khéo chia cắt bằng những gì có thể. Bà làm tất cả, tự biện minh rằng vì con. Chàng trai nghèo và gia đình bỗng nhiên đứng trước những áp lực không ngờ từ mọi phía: những hăm dọa vu vơ, đồn đoán vu khống, làng xã…  Cô gái buồn lắm, chàng trai còn quá trẻ, và cả hai không đủ sức và trí để xoay sở giữa vùng lốc, tình yêu chết oan: nàng chớp nhoáng lên xe hoa, chàng chết điếng, chưa kịp hiểu hết những gì đã đến và đang diễn ra. Một năm nhanh quá, họ chưa kịp có nhiều, vậy mà.
Đám cưới rung rinh một vùng quê bởi mọi thứ: qui mô, thời gian kéo dài, quan khách… Một hạnh phúc lớn lao đến với nàng? Không, cô ấy khó thật nhiều…
Có một câu nói thật hay: yêu là không bao giờ hối tiếc. có lần anh đã nói với người yêu như thế và cô trả lời: còn gì mà hối tiếc anh, mình đã là của nhau mãi mãi. Không, họ không được mãi mãi là của nhau. Nước mắt rơi nhiều trong tiếng nhạc, trời mưa….
Bây giờ, hai năm rồi, anh đã đi thật xa. Áo lính sờn vai, ba lô rằn ri vỏn vẹn mấy bộ đồ cấp phát, còn gì nữa: một album nhiều kỷ niệm chất chứa qua từng tầm ảnh- này em cười thật tươi trong nắng chiều, hai người cụng ly cà phê trong quán vắng, em điệu đà trong khuôn viên nhà thờ… Ảnh còn mới quá, như mới hôm qua. Anh đem theo hết, âm thầm.
Căn cứ rộng quá, ngọn đồi cao cao là chỗ anh và đồng đội nhâm nhi trà đậm hàn huyên cho đỡ nhớ nhà, gốc cây kia là chỗ anh hay nhìn từng tấm ảnh của em, và chiếc giường này anh ngủ với những giấc mơ… Đơn vị là nhà, tiếng kẻng thân quen, bạn bè như cật ruột, hai năm, vậy mà vẫn nhớ nhiều. Càng cố quên lại càng nhớ thêm.

Đã từng có một tình yêu…

N.T.C (Bạc Liêu)
Read more…

CÔ ĐÃ BÁN HOA SEN - Tạp bút Nguyễn Thành Công

15:00 |

Trong vùng có một hồ nước rộng lắm, sâu nữa. Ngày trước người ta đi dân công, mấy xã gom lại đào được cái hồ này! Sáng sáng chiều chiều cô bác lớn tuổi và cánh học trò có chỗ tản bộ thể dục, tụ họp giải trí quanh hồ, kiểu “công viên” miền quê. Một chú trung niên được thuê coi sóc hết thảy, quét dọn, tưới tẩm cây cối. Chú gầy, công việc vậy mà nhiều, suốt ngày không hết, luôn tay luôn chân, có khi chiều tối còn thấy chú nhặt rác do mấy cô cậu học trò vô ý vô tứ quăng bỏ lung tung… Đâu mấy năm, thấy có người vợ và cô con gái ra giúp. Chú nhà ở thôn quê xa, cô và cháu gái hiện rõ vẻ lam lũ tảo tần, lẫn quê mùa chất phác. Từ ngày có vợ con giúp, chú lao công được đỡ đần, mà khu vực hồ rộng thêm phần sinh khí: cô chiều chiều lấy xuồng nhỏ giăng lưới dưới hồ, còn cô con gái gánh phần quét dọn, thấy vẻ hạnh phúc hiện lên trên nét mặt khắc khổ của người cha. Vậy cũng vui lây, bước chân thể dục nhẹ nhõm hơn bớt khắc khoải khi nhìn vẻ mặt khổ sở của chú vì việc nhiều mà cuộc sống quá cô quạnh.
Cạnh bờ nam hồ nước có đầm cạn đầy sen không hiểu người ta trồng khi nào. Hay lắm, bước ngang qua lại thấy những búp sen lẫn trong lá xanh ửng hồng mặt nước. Ngày rằm ngày lễ thấy cô bác gần xa đến hái sen về cúng, rồi mấy cậu học trò thi thoảng cũng xắn quần ga lăng hái sen cho bạn gái! Mà sen nhiều quá, lúc nào cũng thấy có hoa.
Sáng nay rằm, đi chợ, bất chợt thấy cô con gái chú lao công ngồi chồm hổm cạnh dì Tám bán bánh tét trước mặt phòng khám răng, gần ngã tư phố đông đúc. Trước mặt cô là chiếc xô nhựa đầy sen bum búp hồng. À, cô ấy bán sen ấy mà! Người ta mua giúp, mua hoa cúc hoa thược dược, về ngang thấy cô bán sen- việc chưa từng- mua giúp. Thấy cô cố chen mấy nhánh sen vào bó hoa của khách, nét mặt rất tươi. Không vui sao được vì đời sống gia đình họ khó lắm, đồng lương lao công eo hẹp của người cha sao cán đáng nổi cuộc sống chợ búa. Mà cô cũng tài, dân quê đi chợ lúng ta lúng túng, cái gì cũng mắc cỡ ngại ngần, vậy mà nghĩ ra việc hái sen đem ra chợ bán! Chắc cũng đỡ, mà sen lại  sẵn, công mất không bao nhiêu. Mừng, nghĩ đến cảnh tan chợ cô gái ấy mang về mái nhà tranh cạnh hồ một nắm tiền lẻ tiền chẵn, cả nhà vui…


Vậy là ngày rằm này chợ nhỏ đã có người bán hoa sen, việc chưa từng. Mong sao cô có sen hoài để bán, đở đần cho cha…

N.T.C (Bạc Liêu)
Read more…

ANH LÂM - Tạp bút Nguyễn Thành Công

13:47 |
Nguyễn Thành Công



Phương khôn nguôi nhớ về một người anh quen trên đường đời gió bụi, đã rất lâu không gặp lại, chỉ còn nhớ mỗi cái tên: anh Lâm.
Anh Lâm cao ráo, trắng trẻo, mang kính, ăn mặc lịch sự, và có hiểu biết sâu về nhiều vấn đề học thuật và cuộc sống. Hơn 10 năm không gặp lại, song Phương vẫn nhớ như in nhân dáng con người ấy, một nhân duyên.
Khi ấy Phương thất nghiệp, khổ ghê khổ gớm, không biết tả sao cho hết. Đi cùng xứ rồi cũng quay về quê nhà, với vỏn vẹn hai bàn tay trắng, không hơn. Có chăng trong hành trang ngày về là nỗi chán chường, thất vọng, thua cuộc… Quán cà phê ven quốc lộ là  nơi chốn quen thuộc để Phương ngồi mà tồn tại, hết. Khói thuốc mù mịt, nhãn quang đen đặc, nín lặng… Anh Lâm cũng là quen của quán trên đường kiếm cơm. Anh xuống từ những chiếc xe khách dài, với chiếc va li đồng hồ bán rong trên xe. Mệt mỏi, song chải chuốt, và đường hoàng lắm. Riết quen, nói chuyện, và nói nhiều, về tất cả. Anh ấy tinh thông nhiều thứ, lại có kinh nghiệm sống, trải đời. Trung dung, cái quan điểm sống mà anh Lâm yêu thích chính là như thế, dung hòa những khác biệt, tồn tại hòa bình. Không biết bao nhiêu cuộc chuyện trò bên tách cà phê, mịt mờ khói thuốc, với duy nhất mỗi đề tài: quan niệm sống, cách nhìn nhận về cuộc sống và nhập cuộc như thế nào. “Cậu hãy thử bắt đầu từ việc đơn giản, và cố làm cho tốt”, “như bán vé số chẳng hạn”, anh Lâm gợi ý.
Và Phương làm thật, bán vé số. Cái nghề này không hề giản đơn, phức tạp, mệt mỏi, nhiêu khê. Một cuộc chiến đấu kiên cường với chính bản thân, từng bước đi dưới nắng gió, mưa dầm. Nghề đi nhiều, một ngày cộng lại không biết bao nhiêu cây số. Học mời chào, lấy vé tốt dễ bán, học tiết kiệm… Mồ hôi chảy dài trên đường. Một năm tròn, không nghỉ một ngày, “hay đấy”, một vài người khen. Anh Lâm có mua giúp, mấy lần.
Phương đi học lại, lại là cuộc thử thách khác, thậm chí còn gian nan hơn. Ba năm, vượt qua bao nhiêu thiếu thốn, gian khó, không kể xiết, lấy cái bằng còm, bằng thật. Và đi làm. Không gặp lại anh Lâm. Tuyệt đối không. Mà cũng không có dịp quay về quán cũ ven đường.
10 năm có hơn, ghé quán xưa gọi ly cà phê. Chị chủ quán đã có tuổi, “có cháu nội rồi, chú ạ!”- chị nói. Cảnh vật thay đổi nhiều, xây cất thêm ra. Quan trọng nhất chính là mấy cây dừa thân quen đã bị đốn để lấy đất xây nhà mới, tiếc. Ngồi uống cà phê, nhớ đến anh Lâm. Thằng bé con chị chủ quán nơi đã lớn, “con nhớ rồi, chú Lâm bán đồng hồ, cao cao”. Anh ấy không quay lại quán, đi đâu, về đâu… Phương miên man nghĩ về thuyết trung dung “của anh Lâm” giúp anh ấy (và Phương) tồn tại trong khác biệt, một triết lý cá nhân phần nay nhiều hơn phần xưa, cũng hay lắm. Không hiểu anh ấy đi đâu, có khỏe không, có sống được không với... cái thuyết của mình, trung dung. Con người ấy hiền hòa, học thức, có tâm, không hiểu trời có ưu ái anh không, trên đường đời khốc liệt vô chừng. Riêng với Phương, những sẻ chia của một người anh xa lạ, những gợi mở của anh ấy, giúp nhiều cho cậu đứng lên, bước tiếp, có phần vững vàng hơn. Giờ chỉ mong gặp lại người bạn lớn tuổi để mời một tách cà phê, vậy thôi, và lại nói về trung dung trong một cõi đời không hề trung dung chút nào.


Anh Lâm, ở đâu đó, mong anh khỏe, an lành, hạnh phúc. Cảm ơn anh… Phương thầm thì trong long, và bước đi. Quốc lộ vẫn đầy xe, nắng nhạt. 

N.T.C (Bạc Liêu)
Read more…

CÁI ĐẸP QUÊ NHÀ - Tạp bút Nguyễn Thành Công

13:30 |


Tôi dạng tứ hải giai huynh đệ, có bạn nhiều vùng miền. Trà dư tửu hậu bạn toàn khoe cái hay cái đẹp nơi chôn nhau cắt rốn của họ, có khi quá đà chạm tự ái “quê tôi” cho dù bạn nói cũng có sự thật chứ không điêu. Như sông, bạn dõng dạc cho rằng sông Trà Khúc ngoài quê Quảng Ngãi của “hắn” với bờ cát sạch tươm, nước trong văng vắt, có hai mùa nước cạn và đầy, diện tích lòng sông thay đổi, thỏa thuê tắm mát từ lúc để chỏm đến giờ vẫn nhớ khi đi xa. Còn những những ngọn đồi xanh mướt cỏ non, thả diều lên trời xanh mát mà lòng thơ thái vô cùng... “Hắn” chê quê tôi ở đâu cũng có rác, sông ngầu đục, bờ sình lầy thấy ghê; còn cái nắng thì đốt người, có người yêu muốn tìm chỗ tự tình cho lãng mạn không biết kiếm đâu ra, hồn văn hồn thơ ý nhạc mất tiêu. Nghe “hắn” nói mà nổi điên, những ngẫm ra thì y chang vậy: quê mình bề bộn thiệt, có cái rất bầy hầy. Thiên nhiên miền cuối đất có cái quá dư thừa, cái lại là số 0. Cá mắm, lúa gạo… nuôi cả một vùng, còn xuất đi nước ngoài; trong khi đó dân trí, môi trường, và cảnh quan thiên nhiên kém xa thiên hạ, buồn buồn…
Nằm gác tay lên trán, nghĩ ngợi thấy thương quê quá. Và trong một sòng nhậu chén tạc chén thù, mình tuôn trào bênh vực quê hương: đúng, quê tôi không có những ngọn đồi cao cao lộng gió, hay rặng núi xa xa mờ sương dệt thành thơ thành nhạc, sông quê đầy rác và ngầu đục phù sa không đẹp như sông quê bạn, người dân chỗ này chỗ nọ nói tục chửi thề… Nhưng miền cuối đất đẹp và hay theo cách riêng không trùng lẫn với bất cứ nơi nao. Những bãi sông sình lầy là nơi trú ngự của cơ man nào thủy sản nước mặn, tụi nhóc tìm ở đấy một thú chơi “dã man” lại có cá mắm mang về cho gia đình; những vùng đất ngập mênh mang nắng gió rát mặt là vùng ngập mặn lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau lưu vực sông Amazone ở Nam Mỹ về nhiều chỉ số sinh thái và là niềm mơ ước của nhiều du khách quốc tế khi đến Việt Nam. Vùng đất đầy nắng cháy mưa dầm gian truân này đã nuôi chúng tôi lớn lên với nước da đen cháy và một cơ thể cứng cáp, và đất quê này còn dang vòng ta đón cư dân mọi miền đất nước trong cơn thất cơ lỡ vận về nương náu qua ngày, lập thân lập nghiệp, như bạn vậy. “Hắn” nghe đến đấy ngớ ra, rồi hơi cúi đầu. Vâng, đất nước ta trải dài, mỗi vùng miền có nét riêng, không thể so sánh. Nếu ở đây ta khao khát được làm một chuyến du lịch lên cao nguyên hay ra nước ngoài để nhìn tuyết bay ngày đông, hoặc thắm thú những đô thị sầm uất nhất thế giới bao nhiêu, thì những cư dân nơi ấy cũng khao khát được đặt chân đến quê ta bấy nhiêu để sờ mó đụng chạm vùng đất mà họ chỉ mới biết qua sách vở phim ảnh. Nơi nào cung có cái hay cái đẹp. “Trả thù “ xong, tôi ngừng nói, còn bạn nhìn tôi một cách lạ lùng. Không giận hờn chi hết, đấy là tính nết của dân quê này, trời đất tạo vậy mà.


Sáng ra, bạn gọi điện mời uống cà phê như một cách giải hòa. Ngồi nâng tách cà phê  thơm lừng, nhìn xuống dòng sông quê ngầu đục... đầy rác, lòng có chút nhẹ nhàng. Quê mình đẹp lắm, phải không? Thương...

N.T.C (Bạc Liêu)
Read more…

BA ĐỨA TRẺ NGHĨ VỀ MÁI TRƯỜNG - Tạp bút Nguyễn Thành Công

14:00 |

Nguyễn Thành Công


Quán cà phê mở cửa sớm nhất chợ nằm dưới chân cầu, gần trạm thanh tra giao thông, đối diện gốc hoa Hoàng hậu khá lớn, ngay chốt đèn xanh đỏ. Ba giờ kém, vào nhấp ngụm cà phê nóng cho tỉnh. Những chú xe gắn máy thồ tôm sú giống kềnh càng, nai nịch như cánh buôn thuốc lá lậu ngày trước, đậu san sát bên lề đường. Ngồi một mình buồn, bắt chuyện  với ba chú nhóc đen trũi bàn bên đang xòe bài đánh ăn chơi giết thời gian. Rồi tôi sang làm một kha thành bộ bốn chơi tiến lên, vùa đánh vừa nói chuyện. Cả ba chú bé đều là người Khmer, và giống nhau ở hai chỗ: đã bỏ học và, cung chung “nghề” mò tôm tép dưới kênh. Tôi biết cái việc cơ cực này: mình trần ngoi dưới kênh nước mặn, hai bàn tay nhỏ làm việc liên tục dưới nước để bắt cua cá hay tép nhỏ. Đáy kênh vào lúc nước ròng có khi lắm miểng chai miểng sành hay gai nhọn, còn “hàng” là cua cá có khi cũng đáng sợ không kém khi gặp cá ngát hay cua biển, chúng quặp một phát đau thấu trời, thịt độc còn làm mủ buốt nhứt mấy bữa nửa tháng. Được nhiều có thể đem bán ngoài chợ, ít thì đủ kho quẹt. Đấy là một cái nghề của khá đông bà con người dân tộc Khmer, trong đấy không ít trẻ nhỏ bỏ học sơm như vầy. Một đứa hết lớp 8, một lớp 7 và em kia mới lớp 1. Chúng vô tư kể cho tôi nghe: hôm kia trúng mánh được 2 chú cá ngát lớn cỡ ký lô bán bộn tiền. Một em đính chính cho trung thực: cá dạ phèn đó chú, bình thường làm sao bắt được, không khéo nó đâm đau thấu trời. Dạ phèn tức là ruộng người ta xổ nước xuống kênh, chất phèn hòa trong kênh làm cá sốc lờ đờ dễ bắt. Tôi vẫn nhớ hồi nhỏ anh tôi chày về, chỉ vô ý mà mẹ trúng gai cá ngát làm độc mưng mủ rên rỉ suốt mấy ngày, phải chích thuốc tốn bộn tiền.
Rời quán tôi cùng ba đứa thuận đường đi thể dục buổi sáng. Tôi hỏi: mấy em có tiếc vì đã bỏ học không? Một đứa đáp ngay như ấp ủ sẵn trong lòng từ lâu: tiếc lắm chú! Đứa lớn nhất thì ngược lại: tiếc gì, học như ở tù. Em chỉ được học lớp 1 nín thinh, vậy đó… Cả ba em đều khó: một mồ côi ở với ngoại cùng một cháu bà con khuyết tật, lãnh trợ cấp người 180.000 đồng, người 360.000 đồng/tháng, vậy thôi. Bây giờ mấy đứa đi đâu? Mua cơm ăn chú ơi…

Tôi lẩn thẩn chạy bộ thể dục có phần uể oải vì mãi nghĩ về mấy đứa nhỏ: tương lai chúng đi về đâu? Một em thì coi ký ức trường lớp như nhà tù, một em thì luyến tiếc. Nói chung là buồn… 

N.T.C (Bạc Liêu)
Read more…

ĐẤT QUÊ HƯƠNG TÔI - Tản văn Nguyễn Thành Công

14:00 |

    Đất quê thật không cụ thể,  mang trên từng bước người trai nghèo đi tìm bài học khôn, đi tìm cuộc sống với bao dự định lãng mạn trong đầu cùng hai bàn tay trắng.
     Đó là thị trấn nhỏ nằm ven con kênh đào, chỉ có mỗi một dãy phố nho nhỏ. Bên kia sông là quốc lộ chói chang nắng đầy những đoàn xe vội vã, ầm ĩ chạy qua.
     Tôi sống ở thị trấn ấy rất lâu, từ khi còn bé tí. Nơi ấy có ba ngôi trường từ tiểu học đến hết trung học. Mặc dù sau hơn mười năm học quyết liệt chỉ thu hoạch được những dòng chữ như cua như còng, song tôi vẫn rất tự hào về những năm tháng được đến trường. Kỷ niệm về thầy cô, bạn bè vẫn mãi còn trong tôi trên mỗi bước đường. Đó là thầy giáo dạy lịch sử nay đã qua đời. Thầy nắn nót dạy dỗ học trò như chăm con mọn. Đó là thầy dạy toán đẹp trai với bàn tay khiếm khuyết vì tự tàn phá để trốn lính, song lại có cách riêng để vẽ đường tròn rất đẹp. Đó là cô giáo lớp ba vẫn thường thủ thỉ với học trò nhỏ chưa biết gì những băn khoăn về thời cuộc. Những trưa tập thể dục giữa giờ, cả sân trường rợp một màu trắng áo học trò! Những luống cao lương kế hoạch nhỏ hạt đầy sữa. Đó là kỷ niệm về ngày người mẹ vào trường học đem theo mấy khúc mía ướp lạnh cùng một cái cặp đen tuyền tuyệt đẹp. Bà không phải là mẹ ruột của tôi. Một phụ nữ người Hoa tốt bụng, hiền lành. Cũng ở ngôi trường đầy kỷ niệm ấy tôi vinh dự được đứng dạy các em nhỏ một năm học vỡ lòng. Cha tôi nhắn lên để từ giã về Sài Gòn, để lại một địa chỉ lạ hoắc.
     Quê tôi còn là thị xã vùng biên giới rất đẹp. Này là Ngã tư đèn bốn ngọn, này là cầu Cái Sơn, này là đường Thoại Ngọc Hầu… trên chiếc xe đạp bóng loáng tôi xuôi về hướng Cần Thơ, đường lồng lộng gió. Ngồi nhâm nhi ly cà phê đen, nghe mấy vị cao niên xứ Đạo hàn huyên, họ nhắc về Đức Thầy, về một quá khứ đã xa…
     Quê tôi còn là đất Thủ Đức tràn ngập công nhân áo xanh, áo vàng. Bát bún riêu nóng hổi nghẹn lại vì vẽ lầm lũi, mỏng manh của chị bán hàng, người ở tỉnh lên. Thất nghiệp vét túi uống cà phê. Dân quê lóng ngóng với cái phin cà phê, hương đen thơm lừng, lòng thì bối rối không biết cầm cự hay về…
     Quê tôi còn là dòng sông uốn khúc quanh co đầy lục bình xanh biếc. Xưởng vẽ xập xệ đầy ắp những bức tranh tôn giáo đủ màu sắc. Ông hoạ sĩ già mất hồn trong nét cọ còn đứa học trò thì lóng ngóng với những nét chạm đầu đời trên đá đen.
     Quê tôi trải dài trên đường bán vé số. Đường nhựa nóng hầm hập, người ta tất bật đi, dửng dưng với xấp vé số dày cộp.
     Tiếng quê trầm lắng trong tiếng chuông chùa khắc khoải vang vang giữa khuya khoắt. Dòng người đi cầu may mắn, phúc lộc vào ra không dứt…
     Quê còn nằm lẫn trong những dòng chữ cuống quít, hối hả tuôn trào mà đến khi đọc lại, chúng chưa nói được gì!
     Với hai bàn tay trắng dong duổi trên đường đời, ngoảnh lại, đất quê rộng dài theo mỗi bước đi. Ở đâu cũng là quê hương, ở đâu cũng có cái gì đó na ná đất mẹ của ta. Hay thật.

24/10/2009
N.T.C (Bạc Liêu)
                                                                                                                                                 


Read more…

KỶ NIỆM DƯỚI CHÂN CẦU CÀ MAU - Tản văn Nguyễn Thành Công

14:00 |




Thực ra, theo cách gọi miệt này, thì “dưới dạ cầu” mới đúng, tức là ở phía dưới cầu- xe chạy ầm ầm bên trên’ “dạ” – tiếng địa phương: dưới, phía dưới.
Ngày đó anh Hai Bảo còn sống cho dù cũng có tuổi rồi. Hai anh em “viễn chinh” xuống miệt Cà Mau tìm miền đất hứa – theo cách nói của anh ấy- để khai thác nước ngầm, vì mấy tỉnh trên đã bão hòa, giàn khoan đầy ra, công nhân thất nghiệp, khoan trả góp từng giọt mà cũng không ăn thua vì mật độ giếng đã quá dày. Chúng tôi ra đi với mấy triệu tiền mặt, một chiếc vỏ lãi gỗ, “tiền trạm” dọn đường, “ngâm cứu” thị trường. Ngoài ra còn có chiếc dame 50 cc dành cho đường bộ. Đi suốt, có việc, hợp đồng được mấy mươi giếng khoan, người ở lại, người về mua ống PVC và vật tư, gọi ê kíp công nhân… “Người ở lại” dân vận làm quen với bà con, kiếm them hợp đồng, chuẩn bị đón đội khoan sắp đến. Cực lắm.
Lần đấy, Giáng sinh sắp về, tiết Đông giá lạnh cảm thấy rất gần. Miệt nước mặn cận biển gió mái khắc nghiệt mà vẫn cảm thấy hơi thở của mùa Đông. Đội khoan ì ầm máy nổ từ đầu trên đến xóm dưới thực hiện hợp đồng với bà con, tôi và anh Hai Bảo cong giò làm hậu cần: lo cơm nước, thuốc hút, dầu nhớt... cho đội khoan hoạt động liên tục, ngoài ra còn phải đi xa mua ống PVC và phụ kiện bổ sung vì đi về nhà rất xa, không kinh tế. Đứt hơi.
Chuyến đi Cà Mau mua ống gặp mưa giữa đường, ướt đầm đìa, lạnh cóng. Đến chợ Cà Mau, tìm được cửa hàng ống xong, thanh toán hết tiền, gửi hàng lại kho, tìm chỗ ngủ qua đêm chờ sang. Gay go vì vướng víu chiếc võ lãi. Ngủ nhà trọ thì ai ngủ ai giữ võ lãi? Tôi có người quen song cũng không nỡ bỏ anh Hai một mình. Tính nát nước, cuối cùng hai anh em đành chọn “dạ cầu” Cà Mau qua đêm! Thế là có một trải nghiệm có một không hai trong chốn... giang hồ!
Cầu quay Cà Mau (Cầu Mới) khá lớn, lượng xe cộ lưu thông nhiều, ở dưới chân cầu có thể nhận thấy được qua các nhịp rung và tiếng động vọng xuống. Cắm sào neo võ lãi xong, cột giữ đàng hoàng, lại dọn chỗ ngủ. Miếng cao su là giường của hai anh em qua đêm. Tôi khó ngủ quá, và nằm cạnh bên anh Hai cũng thao thức mãi không yên. Chốn chân cầu có một cuộc sống đặc biệt ở đấy: nhiều phận đời cơ nhỡ, bất hạnh, bế tắc tìm thấy chốn dung thân cuối cùng ở đây, vá víu qua ngày… Đằng này nghe tiếng thì thầm của ai đó, đằng kia bước chân của người mới đến, rồi tiếng của dân phòng, cảnh sát… Tất cả tạo nên một không khí khó thể quên, không lẫn được vào đâu. Anh em chúng tôi suy nghĩ nhiều, không ai bảo ai, tự tìm đi mua thuốc lá cho dù cả hai đã cai được một thời gian! Tôi còn nhớ cô bán thuốc gần chân cầu đã hỏi tôi: “làm gì mà cực dữ vậy anh?”, tôi nín thinh, vì cô cũng rất cực: ngồi lụp thụp cạnh chân cầu bán tủ thuốc nhỏ xíu, mưa lất phất trên chiếc nón lá cũ mèm. Cái nghèo khó mênh mông, song nơi đây mới đích thực là chỗ nghèo tuyệt đối. Thường thì anh em nói với nhau rất nhiều khi ngủ chung nơi xa, nhưng lần này ai nấy miên man theo nghĩ suy riêng, lặng lẽ miết. Qua đêm, cả hai gói thuốc lá hết vèo…
Giáng sinh năm đó cả đội khoan không về xứ Đạo vì hợp đồng còn quá nhiều và đã tìm được nguồn cung cấp vật tư với giá cả mềm ở địa phương. Nơi “đóng quân” lại không có nhà thờ, rốt cuộc chúng tôi “ăn” Giáng sinh chay không cây thông, không hang đá, không lễ…  Lâu rồi, đi Cà Mau, qua cầu lại nhớ mùa Giáng sinh năm ấy. Có lần chạy xe gắn máy dưới cầu, thấy người ta đã tráng xi măng hết, cả một cái chợ bé xíu họp dưới đó, mấy cụ già bán trầu cau, thuốc gò… Vui trong lòng, và rất nhớ.
Anh Hai Bảo đã về nước Chúa, nếu còn và cùng đi, thế nào anh cũng rất mừng…
Nguyễn Thành Công
Read more…

CÁI GÌ VÔ HẠN Ở TRONG ĐỜI - Tạp bút Nguyễn Thành Công

14:00 |





Thành đã trở về nhà sau những cuộc khám phá miệt mài, kiếm tìm bản thân và để hiểu cuộc đời này. Nói như thế nghe to tát, chữ nghĩa quá, nhưng không hoàn toàn vô lý. Thành đã đi, vơi hai bàn tay trắng, không biết bao nhiêu dặm đường, đủ hết: thôn quê, thị thành, duyên hải… Đói no, còn mất, nhục vinh, tưởng chừng nếm hết, vậy mà không: lại đi tiếp, nếm trải tiếp. Về thôi, và về thật. Thành trở lại quê nhà, chiều chiều tản bộ với ông giáo già, ôn cố tri tân, hàn huyên về mọi sự trên đời. Thị trấn đã trở mình, có công viên, hồ nước, và những con đường mới. Hồ sạch lắm, có thể nhìn thấy cá tung tăng, và chim lượn ở trên soi bóng xuống. Cây nhiều, sum suê, lả lướt. Thầy giáo nói về âm nhạc, và Thành hứng thú nhập cuộc. bài “Đưa em tìm động hoa vàng” được Phạm Duy phổ nhạc từ ý thơ Phạm Thiên Thư đã trở thành đề tài luận bàn không chán giữa hai người: ngày xưa có gã từ quan, lên non tìm chốn hoa vàng đi tu… Giai điệu thánh thót, có chất thiền, và tiết tấu lạ. Bản nhạc hay lắm, sâu sắt và đẹp. Rồi hai người lại bàn về giới hạn: cái gì cũng có hạn của nó – ông giáo nói- và Thành ngay lập tức đồng ý, đúng, cái gì cũng có giới hạn. Vài ngày sau, thầy giáo lại hỏi: thế em có biết cái gì vô hạn hay không. Như một cái máy, Thành nói về cái vô hạn trong thiên văn học, về vũ trụ, ông giáo ý tứ lắc đầu. Câu hỏi được lập lại, Thành bất giác trả lời: em hiểu rồi, đấy là tình yêu. Thầy giáo già im lặng.
Vâng, tình yêu quả thật vô hạn, vượt thoát khỏi mọi cân đo đong đếm theo cung cách phàm phu tục tử của nhân gian. Và Thành khôn nguôi trăn trở trong lòng khi nghĩ về tình yêu của mình, về sự vô hạn mà mình được chứng nghiệm.
Em ở xa lắm, cách Thành không dưới năm trăm cây số. Hai người quen nhau qua yahoo, trong một cung bậc cô đơn cùng cực của cả hai. Những cản trở chằng chịt vây lấy hai thân phận đã không ngăn được tình yêu, Hạnh – tên người con gái ấy- đã vượt qua hết, đến với Thành trong mùa mưa năm ấy. Không gian phủ đầy những cuộc gọi của hai người, họ đến với nhau. Trên chiếc xe gắn máy cũ, họ đến một hòn đảo nhỏ đầy sóng biển. Tình yêu đã nói với nhau tất cả những gì có thể. Một tuần.
Thành cũng vượt qua tất cả, đến với Hạnh ở nơi xa xôi, và tình yêu nói với nhau những gì có thể. Không gian phủ đầy tình yêu của họ.
Ngày Valentine năm ấy Sài Gòn hiện ra trong lung linh ánh đèn. Thành cùng Hạnh tung tăng dắt nhau đi chụp ảnh, ăn vặt, tự tình. Những nơi có thể đi đến, họ đã đi đến: bến Bạch Đằng, nhà thờ Đức Bà, Thảo Cầm Viên… Và họ đã cùng dự một lễ Valentine ấm áp trong một nhà  thờ. Người ta tổ chức một cuộc thi nhỏ trong sự kiện ấy, hỏi về tình yêu. “Theo bạn, người ta cần những gì khi yêu?”, và họ liệt kê những gợi ý: tha thứ, tôn trọng, hy sinh, thủy chung… Cái phiếu nhỏ Hạnh đưa cho Thành đánh dấu đáp án, và Thành đã trả lời đúng ý ban tổ chức. Hạnh lên sân khẩu nhận phần thưởng, rạng ngời hạnh phúc. Đấy là kỷ niệm khó quên.
Cuộc sống khắc nghiệt đã ngưng nghỉ đôi chút sự nghiệt ngã để hai người có khoảng lặng để mà yêu đương, sau đấy gió bụi cuộc đời lại như cũ, cay nghiệt, xót xa… Thành và Hạnh không thành tựu, cho dù Thành đã ghi đúng các câu hỏi dành cho tình yêu trong lễ hội Valentine ngày ấy, trong tiếng chuông ngân ở Thánh đường. Hạnh có chồng, người ấy không phải là Thành.
Sự vô hạn của tình yêu ở đây được hiểu theo hướng: họ chia tay nhưng không phải mọi thứ đều chấm dứt. Như người ta nói trong triết học: sự vật hiện tượng tiêu vong, mất đi, song vết hằn của nó trong ký ức, trong ý thức, hãy còn và còn dài lâu lắm. Sự hữu hạn đã chia cắt họ trong thực tế, song sự vô hạn làm nó tiếp diễn, cho đến bây giờ. Nói như vậy không hiểu có bị cho là ngô nghê hay không?
Cái gì muốn quên lại khó quên, đấy là một nghịch lý. Hòn đảo nhỏ vẫn còn, những bức ảnh đẹp đẽ lãng mạn vẫn còn, những tin nhắn yêu thương vẫn còn, và trên hết: tình yêu hình như vẫn còn…. Đấy, sự vô hạn.
Valentine, ngày lễ tình nhân, với Thành, nhờ Hạnh mà nó đẹp đẽ, để lại dấu ấn không phai, song cũng đầy đau đớn. Để cứu một cái kết bi kịch nhiều quá, trong vô thức, Thành vẫn tỉnh tảo để nói với Hạnh: em không có lỗi. Không có sự ghen tuông, trả thù… Đấy cũng là sự vô hạn.
Thành vẫn cùng Thầy giáo già thủng thỉnh quanh hồ nước, én vẫn liệng trên mặt hồ làm bạn với họ. Có khi mãi đi, mãi chuyện, mưa lướt thướt phất phơ mà họ không nghỉ, Thành vuốt mặt, nghe có nước ươn ướt, chắc là nước mưa. Ông giáo vẫn cứ mải mê với chuyện văn chuyện đời, có lẽ không hiểu được tâm trạng của học trò cũ, hôm nay vẫn là bàn luận về Phạm Thiên Thư, về “Động hoa vàng”…. Hạnh ơi!

N.T.C (Bạc Liêu)
Read more…

NHÀ TRẺ HOA HỒNG - Tạp bút Nguyễn Thành Công

14:00 |




Chuyện này dài dòng mà hay ho lắm, với riêng anh.
Xóm anh rất nghèo, tưởng khó có thể có một xóm ấp nào nghèo hơn thế: ở thị trấn mà đường hẹp khó chen chân, ngập nước bùn sình, cỏ dại tứ tung… Điện thì mới có, hầu hết cư dân thuộc dạng cận nghèo và... nghèo, trừ dăm ba hộ có ăn có mặc hoặc do có việc làm tốt hay có tiền nước ngoài nước trong. Có lẽ ít ở đâu có nhà tình thương tình nghĩa dày như ở đây, và ngày đi lĩnh mấy trăm nghìn trợ cấp xã hội cứ đông vui như cảnh công nhân lĩnh lương, vì hình như nhà nào cũng có!
Nghèo vậy nên đa phần trẻ nghỉ học sớm, ở cái thời lạm phát bằng cấp mà xóm này trình độ biết đọc biết viết ít ỏi trên đầu ngón tay, trẻ lớn đi hoang, trẻ nhỏ không được học mẫu giáo. Khái quát như thế.
Bé Heo dễ thương vô phúc ở lọt trong xóm ấy. Bé xinh xắn, kháu khỉnh, cho dù hơi ốm o một chút. So với trẻ nhỏ cùng lứa, bé nổi bật ở sự xinh và không ngoan lanh lợi, có nét thiên thần ngay trong ánh mắt. Vậy mà, tất nhiên, bé không được đi học mẫu giáo, như mọi bạn đồng lứa trong xóm. Thanh niên trai gái trong con hẻm nhỏ thay nhau bồng bế hôn hít bé Heo theo cách riêng, dạy nó theo cách riêng nốt, nhìn tội và tiếc lắm.
Anh về xóm nghèo với hai tay trắng, hợp người hợp cảnh, sau mấy năm cầm phấn trắng đứng trước bảng đen gõ đầu tụi nhóc ở xứ xa. Viết lách chút đỉnh đủ tiền gạo, còn thời giờ đi lang thang trong xóm, và kết thân với bé heo như một sự hợp lý nhất có thể có. Những gì anh có ở khóa học sư phạm và kinh nghiệm đứng lớp ít ỏi, anh dành cho bé để cố gắng bù đắp khoảng trống của một lớp học mẫu giáo mà bé heo đáng được hưởng. Cho bé chơi với đồ chơi chữ cái, bồng bé đi chơi, hướng dẫn bé phát âm chỉ các sự vật hiện tượng sống động xung quanh… Riết bé Heo chiếm của anh gần hết thời gian rảnh, và lấp đầy khoảng trống tâm hồn anh bởi sự trong trẻo, thơ ngây con trẻ. Heo ngoan lên, ai cũng thương, cha mẹ bé thì hài lòng với “tình bạn” giữa anh và bé.
Sống một mình, dù nghèo, song anh có điều kiện dành cho bé những gì có thể: một chiếc nón, mấy viên kẹo, bong bóng đủ sắc màu... Và có khi là một chầu cà phê với một ly đen, một lý sữa nóng! Ai nhìn cũng cười và thích thú vì lạ. Anh sống vui hơn với bé, còn Heo thì mến anh theo cách riêng.
Rồi một lần được mời lên thành phố nhận giải thưởng một cuộc thi viết ngắn, người ta tặng anh – lần đầu tiên-  một lẵng hoa tươi. Anh mang theo về nhà, để trên giường, sáng ra mang tặng cho bé Heo, vẫn tươi xinh cho dù... heo héo một chút (nghe mâu thuẫn!). Lẵng hoa hồng…
Thế đấy, vậy mà nên chuyện. Không biết ý tưởng từ đâu, cha mẹ bé Hoa Bướm đặt tên “trường hoa hồng” cho ngôi nhà đơn sơ của mình, mà anh là giáo viên, cha mẹ Heo làm nhân viên, để cho bé một thời mẫu giáo như chúng bạn ngoài phố. Bé được ăn mặc đẹp hơn, mua thêm đồ chơi, và cả gia đình bé heo hợp tác với anh trong việc “giáo huấn” con cháu của họ, một cục cưng. Bé được cho ăn uống đúng cách với những gì có thể, người cha cố gắng kiếm tiền hơn nữa để có quà cho con, cả những chuyến đi công viên xa với nhiều trò chơi, và họ giúp anh thực hiện các “buổi dạy” hiệu quả hơn.
Đấy, có một trường hoa hồng trong tưởng tượng và trong thực tế, ở trong xóm nhỏ nghèo cùng ngay cả điện cũng mới có và đường thì vừa hẹp vừa bẩn thỉu. Vậy mà có cả một ngôi trường tư dạy mẫu giáo cho bé Heo đáng yêu tồn tại cả năm nay rồi. Và xin đoan chắc: đây là chuyện có thật.

N.T.C (Bạc Liêu)
Read more…