Trang Văn Thơ Việt Nam

CẦU TRE THƯƠNG NHỚ - Tản văn Phạm Tuấn Vũ

14:31 |

Minh họa: Trà My

Đất nước mình phát triển, ngày càng có nhiều cây cầu hiện đại, vững chắc nối liền hai bờ. Không còn nhiều hình ảnh những chiếc đò ngang cắm sào nằm đợi. Nhịp cầu tre lắc lẻo khó đi cũng dần lui vào ký ức của một thời quê hương còn nhiều vất vả gian lao. Nhiều em nhỏ hôm nay có thể sẽ không hình dung được chiếc cầu tre ngày ấy. Có thể ai đó lỡ quên mất nhịp cầu tre thân thiết năm nào. Nhưng với riêng tôi, hình ảnh chiếc cầu tre nho nhỏ nơi con suối đầu làng vẫn còn in đậm hoài trong ký ức, dẫu thời gian có thể làm nhiều thứ mờ phai.

Cầu tre ngày ấy đơn sơ. Hai thân tre dài vắt ngang hai bờ suối làm cầu. Giữa dòng là hai đoạn tre già trồng chéo làm trụ chia cầu ra hai nhịp. Trên cầu một cây tre nhỏ thon dài được buộc vào hai trụ cũng bằng tre để người qua vịn cho dễ đi. Cây cầu nho nhỏ làm toàn bằng tre, đong đưa mỗi buổi trưa hè, lắc lư mỗi chiều nước lớn, gần gũi thân quen với người dân xóm tôi, như cây đa, bến nước của một ngôi làng nào đó trên mảnh đất hình chữ S thân yêu này…
Cầu tre thân thuộc với từng con người trong xóm nhỏ quê tôi. Chiếc cầu tuy nhỏ, lắc lẻo khó đi nhưng nối liền hai bờ thương nhớ cho người thương được gặp người thương. Cầu tre thường ngày nhàn nhã nhưng vào ngày mùa cũng góp phần cùng dân quê lo toan bận bịu, oằn lưng cho từng bác Sáu, anh Ba gánh lúa chín về. Như giếng nước đầu làng của một vùng quê nào đó, cầu tre quê tôi hiền hòa, là nơi bà con trong xóm có dịp gặp nhau. Có những buổi làm đồng nắng gắt, các cô, các chị lại ra chân cầu, rửa chân tay cho mát mà đùa vui, chuyện trò cho với bớt nhọc nhằn. Ba mẹ tôi ngày nào cũng qua chiếc cầu này để ra đồng, lên rẫy. Tháng ngày lam lũ, những khó nhọc in hằn lên mái tóc rối bời của mẹ cha, từng dấu chân vất vả in lại trên thân cầu, qua nhiều mưa nắng có thể nhạt phai, nhưng nỗi khó nhọc còn nặng gánh một đời, bởi chúng tôi còn thơ dại. Cầu tre mấy nhịp đong đưa. Mẹ cha mấy thuở nắng mưa nhọc nhằn. Nghĩ về chiếc cầu tre xóm nhỏ, lại thấy thương cha mẹ vô cùng. 
Mấy nhịp câu tre ngày ấy cho tôi cả một trời tuổi thơ. Đám bạn chăn trâu thả diều chúng tôi có nhiều thú vui đồng ruộng. Có những chiều chạy nhảy, những trưa hè hái quả bắt ve, những ngày nước lên đi bắt cá, những trò đuổi bắt quên cả tháng ngày. Có cả những niềm vui thơ dại gắn với chiếc cầu tre nhỏ lắc lư. Ấy  là những trưa hè oi ả, không ngủ được, bọn tôi rủ nhau ra cầu tre tắm suối, nước mát rượi mà thỏa thích reo hò. Ấy là những chiều gió lộng, trâu no cỏ thong thả trên đồng, bọn tôi lại rủ nhau đi làm cần câu cá. Có gì đâu, một chiếc cần tre nhỏ, một sợi chỉ lén trộm của mẹ để dành trong khay, một chiếc lưỡi câu làm bằng lò xo bút, mồi câu là những chú cào cào. Cá cắn câu thì ít, mà niềm vui lúc nào cũng cứ đong đầy. Ấy là ngày sau lũ, cầu bị nước lớn cuốn trôi, bọn nhỏ chúng tôi lại hăng hái góp công đón tre làm cầu với các bác, các chú trong làng. Vậy đó, mà tuổi thơ chúng tôi đi qua, êm đềm như nước dưới chân câu lững lờ, ngọt ngào như nước suối mát quê hương. Bạn bè ngày ấy bây giờ mỗi đứa một nơi, xa dần xóm nhỏ, ra với cuộc đời. Tôi giờ cũng mải đi, chỉ có chiếc cầu tre nhỏ và tuổi thơ ở lại cùng với tháng ngày…
Ai xa dần quê hương, xa dần cây đa giếng nước chắc hẳn sẽ nuối tiếc cho thời hồn nhiên vui tươi đã qua đi và sẽ chẳng thể trở về. Tôi dần lớn lên, đi qua tuổi thơ bằng những tháng ngày rất hiền, êm đềm như đêm trăng tỏ có hương cau rụng trắng cả sân hè, bằng những trò đùa vui đồng ruộng với đám bạn chân đất đầu trần lành như đất không bao giờ biết toan tính, bằng những cánh cò chấp chới mang dáng mẹ tảo tần, và bằng cả chiếc cầu tre nhỏ như dáng cha một đời khó nhọc, hy sinh. Chiếc cầu tre nhỏ thân thương. Tuổi thơ ta với quê hương một thời. Tôi đã đi và sẽ còn đi mãi, chiếc cầu tre xin gửi lại quê nhà. Để những khi thấy lòng mệt nhọc, sẽ lại tìm về dòng suối mát với chiếc cầu tre lắt lẻo quê hương…

P.T.V (Quy Nhơn) 
,


Read more…

NHỌC NHẰN NHỮNG GÁNH HÀNG RONG - Tạp bút Phạm Tuấn Vũ

14:30 |
Minh họa: Trà My

Tôi đã gặp trên những con phố dài vắng người xe qua lại, gánh hàng rong nặng trĩu của một người bán bánh bèo, cũng có khi là một người bán tàu hủ đi về lặng lẽ trong bóng chiều chập choạng. Trong những con hẻm sâu heo hút, tôi đã từng thấy vài cô bán mì bún, vai kẽo kịt đôi quang gánh nhọc nhằn, lê từng bước chân mòn mỏi ghé từng nhà mà tiếng rao sao nghe thiết tha. Ở một góc chợ khuất lấp nào đó trong thành phố, tôi cũng từng gặp một vài người đàn bà nông dân, với chiếc nón cời và gương mặt chai sần mưa nắng, ngồi co cụm bên đôi thúng có vài quả mướp, mấy lọn rau muống, dăm bảy quả cà quẩy gánh từ ngoài rìa ngoại ô vào. Họ là những phận người mang trên vai đôi quanh gánh nặng nhọc cuộc đời…
Trên đôi vai gầy lặng lẽ, họ gồng gánh biết bao nhiêu nỗi vất vả, nhọc nhằn. Đôi quang gánh trĩu nặng, khó nhọc đè lên tấm thân lao khổ của những người bán hàng rong. Bàn chân mỏi lê qua bao con đường, giọng rao khàn như chìm mất trong những con hẻm ngoằn ngoèo sâu hun hút, hay dáng co ro khép nép vì xin nhờ ngồi bán trong một góc chợ tồi tàn, một ngày đối với người bán hàng rong dài đằng đẵng. Rồi có khi cơn mưa chiều đến vội, không kịp tìm chỗ trú, họ gánh cả trời mưa đi về trong ướt mèm lạnh lẽo. Cũng có khi trưa nhiều nắng gắt, một ly nước mía vỉa hè cho dịu bớt cái chói chang họ cũng không dám ghé vào. Một chiều nào về muộn, trên ánh mắt họ là nỗi thất vọng chán chường, ta hiểu rằng cả ngày hôm ấy gánh hàng rong ế ẩm. Và khi đêm về, lại thêm nhiều nỗi lo toan…

Những gánh hàng rong cứ đi về cần mẫn, qua những phố hè hay từng con hẻm vắng, có đôi khi ngồi lặng lẽ ở một góc chợ khuất lấp nào. Trên vai là những nỗi nhọc nhằn, nhưng không thôi mơ ước, gánh hàng rong là tình yêu thương của những người vợ người mẹ, những người suốt đời chỉ biết hy sinh lặng thầm, nhưng đòn gánh tre kẽo kẹt trên vai qua những tháng năm… Đi giữa đời mưa nắng khó nhọc, những gánh hàng rong lại ấp ủ, nâng cánh cho bao mơ ước bay cao. Cho con một chiếc áo mới, mẹ lại gánh thêm nhiều rau lên chợ sáng nay. Cho con có thêm tiền ăn học, mẹ lại quẩy gánh vòng thêm vài con hẻm, chiều về tối hơn vài giờ. Mẹ sẵn lòng rao đến khàn cả cổ, để con được vô tư cất cao tiếng hát ngọt ngào nơi giảng đường. Gánh hàng rong nhỏ bé, vốn liếng chưa đến trăm ngàn, tiền lãi sau một ngày vất vả có khi vừa bằng vốn, nhưng gói ghém trong đó bao niềm vui, hy vọng lớn lao, rằng mai này con mình được ăn học, sẽ thay đổi cuộc đời, không phải như mẹ trĩu nặng quang gánh lê gót qua những con đường. Cũng có khi, những gánh hàng rong mang về hạnh phúc giản đơn rất đỗi đời thường. Một ngày bán đắt hàng, về sớm để chuẩn bị bữa cơm chiều, mua thêm ít thịt nấu canh, cho chồng con được những phút thảnh thơi, chừng ấy thôi cũng đủ làm người bán hàng rong mãn nguyện.


P.T.V (ĐH Quy Nhơn)
Read more…

NHỮNG ĐÊM TRĂNG MÙA HẠ - Tản văn Phạm Tuấn Vũ

13:30 |


Có những đêm trăng mùa hạ. Êm đềm như nước ngoài sông trôi. Dịu dàng như cơn gió nhè nhẹ ngoài đồng mang vào hương rơm rạ sau mùa.
Yên ả như đầu hè hoa cau rụng trắng. Mênh mang như nỗi nhớ ai đó làng bên. Đó là những đêm trăng của quê nhà, của tuổi thơ, của ruộng đồng, của ký ức yêu thương, của hoài niệm khắc khoải trong những bước đường hơn nửa đời phiêu dạt…
Tôi nhớ những đêm trăng mùa hạ của những ngày bé thơ, thuở đầu trần chân đất lấm láp như hạt lúa trên đồng, những mùa trăng không bao giờ tìm lại được. Đó là những đêm trăng sáng ngập cánh đồng, trăng lung linh giữa trời một vầng tròn vành vạnh ước mơ, trăng hiền lành như cổ tích và những câu chuyện ngày xửa ngày xưa bà kể, trăng lặng lẽ theo những đôi chân trần đi khắp đồng cạn bờ đê, trăng theo vào trong cả những giấc ngoan say…

Nhớ những đêm mùa hạ yên bình đến lạ, trăng lên bất ngờ phía sau lũy tre làng. Cánh đồng trước ngõ ngập trong ánh vàng mát dịu và gió ngoài sông hiu hiu thổi vào. Trẻ con làng tôi lại gọi nhau chạy ra ruộng cạn đầu làng. Cánh đồng sau mùa gặt chỉ còn trơ gốc rạ, cỏ vàng khô và trăng tỏa ánh sáng chan hòa. Đó là những đêm vui bất tận, tiếng nói cười không dứt trên môi. Trẻ con ở quê có bao nhiêu trò chơi đồng ruộng, chỉ cần vầng trăng tìm đến là thôn xóm lại ngập tiếng vui đùa. Rồi khi chán chê, mỗi đứa chia nhau về nhà và vùi ngay vào giấc ngủ, trăng cũng theo về trong những giấc mơ…Quê tôi nghèo bao đời quẩn quanh bên bờ tre gốc rạ. Ở nơi ấy tôi âm thầm lớn lên như cây lúa ngoài ruộng, như quả bầu quả bí lủng lẳng trên giàn. Tôi đi qua tuổi thơ với dòng sông, ruộng cạn, với con diều giấy tự làm, với vầng trăng bầu bạn. Làng tôi mãi sau này, khi tôi đã đi học xa, mới có điện. Ngọn đèn leo lét thắp một lát phải tắt để tiết kiệm dầu không đủ cho bọn trẻ làng tôi gặp nhau vui đùa. Những đêm trăng trở thành niềm mơ ước. Không chỉ là dịp để lũ trẻ lại được í ới gọi nhau ra đồng chơi những trò ú tim, đuổi bắt, những đêm trăng mùa hạ còn là ước mong, là những vầng sáng rạng ngời trong tưởng tượng, những chân trời xa tít tắp ước mơ.

Có những đêm trăng mùa hạ nghe lòng bâng quơ. Trăng vàng tươi cũng có đôi lần khiến mình xao xuyến. Bỏ lũ bạn reo đùa ngoài ruộng, bỏ quên cả trang sách còn lật dang dở trên bàn, tôi theo vầng trăng đi tìm điều gì như là nhớ thương mà mình không rõ. Có cô bé nhỏ xinh làng bên vẫn hay cùng ngồi nghịch nước ngoài kênh những đêm trăng sáng. Trăng núp sau cành tre già bẽn lẽn, chẳng ai nói điều gì, chỉ có tiếng đôi chân khỏa nước và hai mái đầu nghiêng nghiêng. Kỷ niệm ngủ quên qua bao mùa trăng vơi đầy, tròn khuyết. Chỉ có những gì như là thương nhớ đầu đời cứ tròn vẹn mãi cho đến bây giờ…

Có những đêm trăng của mùa hạ ngày xưa, thương mẹ cha nhọc nhằn vất vả. Những đêm trăng mẹ phải ra đồng, cha đi cày khuya những đường cày mỏi mệt, vầng trăng lặng im trôi về phía cuối trời. Có những đêm trăng của một thời nghèo khó, mẹ không thắp đèn dầu, trăng đến trước sân, ghé vào cửa sổ thắp sáng cả căn phòng…

Ai cũng có một thời của tuổi thơ để thương để nhớ, cũng có những người bạn của một thuở bé con theo nhau đến tận cuối đời. Tuổi thơ tôi có vầng trăng nơi quê nghèo làm bạn, có những đêm trăng mùa hạ êm đềm với biết bao kỷ niệm. Đó là cả một trời yêu thương luôn ở bên tôi trên mỗi bước đường dần xa quê, là nguồn an ủi những khi nghe lòng thấm mệt, thủy chung như vầng trăng ngày bé cứ tròn vành vạnh cho đến tận ngày sau…

P.T.V (Đại học Quy Nhơn)

Read more…

THƯƠNG CỔNG LÀNG XƯA - Tản văn Phạm Tuấn Vũ

14:31 |
Minh họa: Trà My

Trong tâm khảm mỗi người, quê hương bao giờ cũng là những điều thân quen, gần gũi nhất. Đó là một xóm nhỏ, một ngôi làng yên bình nép dưới bóng hàng tre, thấp thoáng trong những ngọn khói lam chiều.

Xóm nhỏ, chòm nhà ấy bao giờ cũng bắt đầu từ cổng làng. Từ cánh cổng thân thương ấy là con đường đất mịn, quanh quanh theo con mương, men theo bờ ruộng, len qua hàng giậu thưa, dẫn vào ngõ vắng đến với từng nhà. Từ cánh cổng chung của làng ấy là cuộc sống bao đời yên ả, là cả một khung trời kỷ niệm tuổi thơ.
Cổng làng để lại sau lưng thế giới rộng lớn ngoài kia, dẫn ta vào xóm nhỏ, đến với những mái tranh mái ngói thanh bình, với những con người cần lao quanh năm với ruộng đồng chân chất, với cuộc sống bình dị của những tấm lòng đơn sơ. Một tiếng gà trưa gọi nắng, một ngọn khói chiều từ chái bếp nhà ai, một đêm trăng về yên ngõ vắng, bước qua cổng làng là khép lại bao nhiêu ồn ào phố chợ ngoài kia. Nhiều người dân quê cả đời quẩn quanh bờ tre gốc rạ, chẳng mấy khi ra khỏi cổng làng. Cánh cổng vào xóm vì thế mà thân quen biết mấy…
Không ai bảo ai, từ bao đời cổng làng trở thành nơi gặp gỡ của bà con trong xóm. Những sáng ra đồng, những chiều ra chợ, ra cổng làng là có dịp gặp nhau. Những khi làm đồng thấm mệt, chạy vào ngồi trong bóng mát cổng làng. Những lúc cơn mưa chợt đến, đang lỡ đường lại chạy vào cổng làng trú mưa. Những ngày vào mùa, cổng làng trở thành địa điểm thân quen, bà con đến ngồi nghỉ ngơi, uống nước, ăn nửa buổi để lấy sức tiếp tục xuống đồng. Ngồi cạnh nhau dưới cổng làng, kể nhau nghe chuyện nhà nông khó nhọc, chia nhau bát nước củ khoai dưới cổng làng là nghĩa tình sau trước được người ở quê gìn giữ bao đời.
Cổng làng yêu thương, bạn tin cậy của những ai mong nhớ hò hẹn. Trai gái làng thương nhau, hẹn nhau ra cổng làng, trao nhau trái bắp quả cam, tặng nhau một đóa hoa mua, hoa nhài hái ở bờ ruộng. Tình yêu đơn sơ ấy lớn lên trong hương lúa non thơm mùi sữa, trong bóng chở che của cổng làng để đến một ngày đẹp tình lúa duyên trăng. Cổng làng làm nhân chứng cho những đêm trăng thề hẹn, cho cái nắm tay vụng về, cho những yêu thương gắn bó. Nhỡ duyên không thành, qua cổng làng chợt nghe bao xao xuyến. Còn khi đôi lứa nên duyên, làm sao quên được cổng làng một thời ngại ngùng, bẽn lẽn…
Cổng làng bao giờ cũng gắn với tuổi thơ của bao nhiêu kỷ niệm đẹp. Những chiều ra đầu cổng ngóng mẹ chợ về, một cái bánh đa hay một nghìn đồng bánh đúc mà nghe vời vợi tuổi thơ. Những ngày đi học, hẹn nhau đợi cổng làng rồi dung dăng đến lớp tiếng nói cười rộn rã đường quê. Cổng làng gìn giữ cho thuở ấu thơ những gì êm ả, nuôi nấng cho bao đứa trẻ lớn lên, chứng kiến họ trưởng thành, dù có nhiều người một khi thành người chẳng mấy khi về lại cổng làng xưa nữa…
Cổng làng rêu phong mưa nắng, ở ăn gắn bó với làng. Người vãng lai tìm đến, cổng làng trở thành người chỉ đường. Người ở quê đi xa, cổng làng lại gọi về bao nhiêu thương nhớ. Rồi sẽ mất dần những cổng làng xưa khi nhiều cổng chào mới khang trang được xây nên. Chợt nghe lòng xa xót, khi đi xa nhớ làng, muốn tìm về tuổi thơ để được vỗ về đôi chân thấm mệt, ta biết tìm đâu những cổng làng xưa…

P.T.V (Quy Nhơn)


Read more…

CHIỀU MƯA QUA PHỐ - Tạp bút Phạm Tuấn Vũ

14:53 |
Minh họa: Trà My

Có những chiều mưa giăng qua phố, chợt nghe ùa về bao kỷ niệm ngày xưa. Đó là một thời vừa bước chân ra khỏi lũy tre làng đến nơi thành phố lạ, cơn mưa đầu tiên của đời sinh viên giữa thị thành ướt sũng, lặng lẽ bước về xóm trọ mà nghe lạnh mình. Rồi qua những ngày mưa như thế, phố dần một ngày bỗng hóa thân quen. Và cơn mưa không còn đến vội, không lạnh lùng mà nhiều lúc lại hóa yêu thương…
Có những chiều trường tan vội vàng đạp xe đi dạy thêm. Đời gia sư cũng nhiều những kỷ niệm khó quên. Những chiều phố mưa không ngớt, trong chiếc áo mưa lụng thụng, lóc cóc đạp xe đến nhà học trò. Uống một ngụm trà nóng phụ huynh pha cho, rồi vào giờ dạy mà nghe lòng ấm mãi, dù đôi tay vẫn còn tê buốt vì bị ướt mưa. Những hôm dạy xong trời bất chợt đổ mưa, đang loay hoay không biết làm sao về thì học trò mang cho một chiếc ô, có khi mời ở lại ăn cơm tối đợi cơn mưa tạnh. Bây giờ ngồi nghĩ lại, những chiều mưa như thế thật ý nghĩa biết bao.
Nhớ những chiều cuối tuần không phải lên lớp, phố lại đổ cơn mưa. Ngồi trong phòng nhìn ra ngoài kia từng dòng người xe hối hả, lại nghe trong lòng nhiều suy nghĩ miên man. Có những hôm cầm ô ra phố, bước chầm chậm qua từng vỉa hè, ghé qua trường đại học, vào ký túc xá thăm mấy đứa bạn đồng hương, rồi khi trở về, ghé vào một quán chuối chiên trên hè phố, ngồi bên lò lửa hồng đang bập búng tí tách mùi củi khô cháy, xoa xoa bàn tay để nghe cái ấm lan dần. Không gì thích hơn những chiều phố mưa lê thê, ngồi cùng vài đứa bạn ở những quán chuối chiên vỉa hè, nhâm nhi những chiếc bánh giòn thơm mà nhìn mưa giăng trên phố và dòng người xe hối hả đi qua.


Có một thời đan tay trên từng con phố nhỏ, chiếc ô xinh tim tím trên đầu. Mưa lất phất từng sợi dài sợi ngắn, nghe dịu dàng một thuở vừa biết yêu nhau. Đó là những năm tháng sinh viên nhiều mơ mộng. Cái rung động đầu đợt như bất chợt bên phố mưa về. Ngày ấy ta gặp em, vô tình như chưa bao giờ hẹn trước, trên đường tan học về chiều lặng lẽ mưa bay. Ta ôm tập vở đi vội trong cơn mưa đang dần nặng hạt, dừng lại trước đèn đỏ chợt bắt gặp một ánh mắt chưa bao giờ biết trước mà sao như đã thân quen, cô bé nhỏ nhắn xinh xinh như hạt mưa trong nắng, xòe chiếc ô và bảo đi cùng. Cứ thế đi qua bao ngày mưa bên phố, hai mái đầu vẫn một chiếc ô chung. Cảm ơn cơn mưa chiều năm ấy, cho ta gặp em giữa cuộc đời…
 Chiều nay phố lại mưa. Cơn mưa về bất chợt. Ngồi trong phòng làm việc, qua khung cửa sổ là cả con đường, mái hiên mưa đan từng hạt dài tí tách. Chợt nghe sống lại những ký ức êm đềm của một thời sinh viên mỗi khi chiều về có cơn mưa đến vội. Chợt nghe mưa gọi về bao kỷ niệm rạo rực về một thời vô tư, khờ dại như mưa…   

P.T.V (Quy Nhơn)                                             


Read more…

THÁNG 5 NHỚ KHÓI ĐỐT ĐỒNG - Tản văn Phạm Tuấn Vũ

15:01 |
Minh họa: Trà My


Xa quê nhiều năm, lâu rồi không được nghe mùi khói đốt đồng, không còn những chiều cùng đám bạn chăn trâu nằm giữa ruộng cạn, nhìn lên trời những cánh diều bay tít trên cao mà tận hưởng cảm giác yên bình của đồng quê những ngày vào hạ. Tháng 5 về, nghe nhớ khói rơm rạ bâng khuâng…
Tháng 5, mùa thu hoạch lúa quê tôi đã xong, cánh đồng trước làng chỉ còn trơ gốc rạ và những đụn rơm khô. Nhớ những chiều tắt nắng, tôi cùng đám bạn chăn trâu ngoài đồng hay theo các bác trong làng đi đốt rơm. Ở làng tôi, rơm khô một phần được mang về nhà chất thành cây dành làm thức ăn cho trâu bò vào mùa mưa, một phần được đốt làm tro cho tốt đất vào vụ sau. Hồi ấy các bác hay bảo, cây lúa nuôi người quê mình, từ hạt thóc, cọng rơm cho đến cả gốc rạ. Hồi ấy bọn tôi đi theo đốt rơm chỉ để tìm niềm vui mà đâu có biết, đến cả khi cháy đi rồi cây lúa vẫn có ích cho người.
Những chiều tháng 5 làng tôi yên bình đến lạ. Mặt trời khuất xa xa nơi mấy ngọn đồi, chỉ còn lại những tia nắng hanh hao vàng vọt. Trên cánh đồng, những làn khói trắng êm đềm nhẹ tỏa, mùi rơm rạ với mùi bùn đất cháy hòa quyện thành một thứ hương đồng quê rất riêng. Tuổi thơ tôi đã đi qua bằng những chiều yên ả như thế. Bên đàn trâu thong dong gặm cỏ, bên cánh diều chấp chới bay cao và những đợt khói rơm nhẹ lan theo gió, tôi và đám bạn đi qua một thời đầu trần chân đất mà quên cả tháng ngày.
Những chiều đi đốt rơm đồng với bọn tôi là những chiều không gì vui bằng. Bỏ cánh diều nằm chỏng chơ nơi mé bờ ruộng, có đôi khi bỏ quên cả đàn trâu đi ăn lúa làng bên, bọn tôi theo mấy bác trong xóm đi dồn rơm lại đốt. Ngọn lửa được nhóm lên, tiếng rơm cháy xì xèo nghe sao mà vui tai. Khói trắng lên nhiều khi làm cay mắt mà hương rơm rạ cháy cứ nghe ở mũi ngạt ngào. Có lẽ đã quen với những chiều đốt rơm như thế mà mùi khói đồng sao vẫn cứ thấy thân thuộc. Hít một hơi khói đồng nghe cay cay sống mũi để đến bây giờ cứ vương vấn mãi hương ruộng đồng. Tháng 5 về có đôi lúc chợt nghe thoảng một mùi hương khói nhớ…
Vui nhất là những lần đi nhặt cốm. Hạt thóc còn sót lại ở cọng rơm khi cháy sẽ nổ thành bỏng mà đám bạn của tôi hay gọi bằng cái tên thân thương là hạt cốm. Rơm khô cháy nhanh, chỉ cần một đợt gió thổi qua là cả một ruộng rơm khô trong phút chốc chỉ còn lại tro lấm tấm. Tro rơm mau nguội nên cháy xong một lúc là có thể bước vào tìm cốm. Hạt lúa khô nghe nóng là bong ra thành bỏng trắng nên rất dễ nhận ra. Ngày nhỏ bọn tôi cứ lê la khắp đồng đi nhặt cốm mỗi chiều như thế. Nhặt xong, đứa được một túi áo đầy, đứa thì được nửa nón, cả bọn mang ra ngồi giữa ruộng mà chia nhau. Nhai một hạt cốm, nghe cái thơm thảo của ruộng đồng thấm trên đầu lưỡi, tay chân đầy nhọ mà mặt ai cũng rạng rỡ cười. Tuổi thơ tràn ngập niềm vui, tôi sẽ nhớ mãi nhiều chiều đi đốt rơm, nhặt cốm như thế.
Đã lâu rồi không trở lại quê xưa, không về lại với những chiều đốt rơm ngày bé. Những mùa hạ cứ nối tiếp nhau, tất tả nơi thị thành để rồi một chiều ngoảnh đầu nhìn lại, tuổi thơ đã qua mất lâu rồi. Tháng 5 về, chợt nghe thương nhớ, thoáng bên mình hương cốm thơm thơm lấm láp tro rơm của thuở ngày xưa…

P.T.V (ĐH Quy Nhơn)



Read more…

GIÓ TỪ TAY MẸ - Tản văn Phạm Tuấn Vũ

15:01 |


          Người ta thường hỏi, gió đến từ đâu. Từ cánh đồng trước nhà, từ dòng sông trước ngõ, từ biển rộng tít tắt chân trời hay từ thảo nguyên xanh bát ngát, mỗi người hẳn ai cũng có cho mình một câu trả lời. Với riêng tôi, gió chẳng đến từ đâu khác ngoài đôi tay mẹ chai sần gầy guộc, chỉ là gió hiu hiu của một thời thơ dại thôi mà mát lòng cho đến trọn kiếp con người.
          Từ những ngày mới lọt lòng, gió từ cánh tay mẹ đến với cánh nôi đưa, ru ta vào giấc ngủ say bằng những câu ca dao ngọt lịm. Rồi lớn hơn một chút, gió cũng từ tay mẹ đến bên cánh võng trước mái hiên nhà, đung đưa tuổi thơ qua từng giấc ngủ vùi êm đềm dưới bóng tranh che. Từ chiếc quạt giấy, quạt mo hay quạt nan tre, có khi chỉ là đôi tay mẹ sớm chiều đưa nôi đưa võng, gió về quanh ta, êm êm như từng nhịp quạt, đều đều như nhịp võng nhịp nôi, hiền hòa như dáng mẹ lam lũ tảo tần và mát rượi như tình yêu thương bao la của mẹ. Chẳng có con gió nào mát lành như gió tuổi thơ, cũng chẳng ngọn gió nào dịu dàng như gió từ đôi tay mẹ.
          Gió từ tay mẹ, là hương lúa non chớm xuân, là hương rạ rơm cuối hạ, là mùi bùn đất đông vào nơi cánh đồng nuôi ta đi qua tháng năm khờ dại. Gió từ tay mẹ có hương bưởi thoang thoảng ngoài hè, có hương cau ngoài sân dìu dịu, có sông quê khua nước những đêm trăng lên, có yêu thương, đợi trông, hi vọng của mẹ mỗi ngày. Thương làm sao khi con thơ say sữa ngon giấc trong nôi trong giấc mơ có cánh cò bay lả, cánh diều trong gió vút cao. Hay những trưa hè oi ả, nhìn con ngủ ngon trên chõng tre, giữa cánh võng trong làn gió mẹ quạt đều đều, lòng mẹ nghèo ngập tràn hạnh phúc. Rồi một ngày ta cũng sẽ làm cha làm mẹ, cũng sẽ ngồi quạt cho con thơ ngủ say, rồi ta sẽ hiểu hết cái thiêng liêng của ngọn gió tình mẫu tử.
          Gió từ tay mẹ còn có vị chát mặn của giọt mồ hôi nhỏ xuống ruộng cày, của những ngày nắng lưng mẹ còng xuống cho lúa đồng tốt tươi. Dẫu rằng có trăm nghìn khó nhọc, bên chõng tre cánh võng, tay mẹ vẫn đưa quạt thật đều, dù bên trong từng nhịp quạt, là bao nhiêu mệt mỏi sau một buổi làm đồng. Mẹ nhọc nhằn vất vả những vẫn mỉm cười khi nhìn thấy con lớn lên từng ngày. Miễn sao từng làn gió ru con say giấc ngủ vùi, gió đem về cho con những giấc mơ thần tiên cổ tích, gió đưa con qua tuổi thơ êm đềm là mẹ thỏa vui. Và cánh quạt đều nhịp, cánh nôi lại đong đưa mỗi trưa mỗi sớm, gió lại về mát rượi vô tư…
          Ai cũng có một thời như thế, đi qua tuổi thơ bằng cánh cò cánh vạc bay về trong lời mẹ ru, lớn lên từng ngày bằng tiếng thương tiếng nựng, ngủ say những giấc đầu đời bằng gió từ đôi tay mẹ mang về. Rồi ta sẽ lớn lên, quạt điện sẽ thay dần tay mẹ. Và rồi một ngày tay mẹ cũng sẽ run run, chẳng còn có thể quạt cho ta nhẹ lòng những khi thấm mệt. Chỉ có yêu thương chẳng bao giờ thay đổi, như gió từ tay mẹ một thuở bé dại vẫn thổi dịu dàng của những tháng năm…

P.T.V (ĐH Quy Nhơn)
Read more…

THƯƠNG NHỚ GIẾNG LÀNG - Tản văn Phạm Tuấn Vũ

15:00 |


          Ai đi xa mà không quê nhà xóm nhỏ, nhớ dòng sông bến nước con đò, nhớ hàng tre rợp bóng đường làng. Quê hương chẳng bao giờ xa vời. Quê hương là chùm khế trên cành mọng vàng lủng lẳng, là hàng giậu mẹ thả ngọn mùng tơi, là đêm trăng êm đềm ngõ vắng, là những gì rất đỗi đơn sơ mà gần gũi, ai đi xa cũng phải nhớ nhiều. Tôi đi xa, đã nhiều năm không về quê mẹ, trong giấc mơ cứ chập chờn những hình bóng của quê hương tuổi thơ. Chao ôi, nhớ sao giếng nước đầu làng, nhớ sao xóm nhỏ con đường chân quen…
          Hẳn là trong tâm thức của mỗi người Việt chúng ta, hình ảnh giếng nước đầu làng không với ai là xa lạ. Có thể người ta rồi phải xa quê, có người gắn bó trọn đời nơi phố thị, có người sống đời viễn xứ nơi quê người xa ngút ngàn nhưng hễ nhắc đến cây đa, giếng nước, cánh đồng thì dường như những gì thân thương, gần gũi, tin yêu nhất lại về ngập giữa hồn người. Trong mỗi người có một tuổi thơ, một ngôi làng nhỏ, một bờ giậu thưa, một giếng nước, một mái chùa trong lời mẹ hát võng đưa năm nào. Giếng nước đầu làng có trong lời ru của mẹ, trong câu chuyện cổ tích của bà, trong niềm vui đơn sơ người nhà quê vẫn kể nhau nghe sau mỗi ngày lam lũ, trong tiếng cười vô tư của đám trẻ con chân đất đầu trần…
          Giếng làng chẳng phải thật đặc biệt. Bao nhiêu làng quê thường cũng chỉ một kiểu giếng từa tựa nhau. Chỉ là một cái giếng nằm ở đầu làng, cạnh con đường dẫn vào xóm nhỏ mà sao thân thiết với bao người. Nhớ về giếng nước là biết bao yêu thương theo kỉ niệm gọi về. Làm sao quên những đêm trăng lên, những sớm tinh mơ sao trời còn chưa lặn, mẹ lặng lẽ ra đầu làng gánh những đôi nước kĩu kịt về, hai vai khô gầy từng nỗi nhọc nhằn hằn xuống. Nhớ những chiều xong việc làm đồng, bà con cả xóm lại ra giếng nước mà tắm giặt  đùa vui, tiếng nói tiếng cười như xua tan hết những vất vả sau một ngày khóc nhọc. Và nhớ nhất là những ngày còn bé, đi đâu hay làm làm gì hễ khát nước là ngay ra giếng làng, giục lên một gàu nước trong veo, uống vào mà nghe lòng mát lạ.
          Xối một gáo nước giếng làng mà nghe mát lạnh đến từng chân tóc, uống một ngụm mà lòng ngọt đến bây giờ. Giếng nước nhỏ khiêm nhường đơn sơ đứng bên vệ đường mà rộng lòng với tất cả ai đến. Này anh ghé lại nghỉ chân, múc gầy nước rửa mặt cho mát, đường còn xa anh chớ vội gì, đây nước ngọt trong anh tha hồ uống cho người đỡ khát. Người Việt mình ai chẳng biết câu ca dao thân em như giếng giữa đàng. Giếng nước đầu làng tự xem mình nhỏ bé miễn sao có thể giúp được nhiều người, như người dân quê vụng về chân chất, nhưng yêu thương sau trước nghĩa tình…
          Khi cuộc sống ngày một hiện đại, khoảng cánh giữa nông thôn và thành thị cứ thu hẹp dần, nhiều giếng nước đầu làng cũng dần không còn nữa. Có nơi người ta đập đi để xây nên những công trình mới, có nơi chẳng ai dùng đến giếng nước hoang phế lụi tàn. Những cũng có nơi người ta lại không thể bỏ thói quen ra giếng làng tắm giặt, lấy nước mỗi chiều mỗi sớm. Dù gì đi nữa, giếng làng vẫn luôn là một hình ảnh đẹp của quê hương, vẫn còn mãi trong tâm khảm mỗi người. Bởi quê nhà chẳng bao giờ là những điều xa lạ, và quê hương có trong mỗi người từ những ngụm nước nơi giếng làng mát rượi ngày xưa…


P.T.V (Đại học Quy Nhơn)
Read more…

PHỐ TRONG TÔI - Tản văn Phạm Tuấn Vũ

15:01 |


          Thành phố trong suy nghĩ của nhiều người phải là những tòa nhà cao ngất, những con đường trải nhựa thẳng tắp và rộng thênh thang, những dòng người xe nhộn nhịp bất kể đêm ngày hay những ánh đèn màu lung linh rực rỡ trên các bảng hiệu,… Nhưng với tôi, phố gần gũi lắm, đơn sơ mà thân thuộc, như quê hương, như nơi chốn đi về.
          Hơn nửa đời ở với phố, tôi hóa thương yêu, gắn bó với những con đường chiều về có lá me bay, những phố hè có bằng lăng rợp tím, những ngã tư quen thuộc phải dừng xe một chốc mỗi ngày. Bốn năm sinh viên, ra trường xin việc, ở lại lập nghiệp rồi có gia đình, phố trở thành quê nhà thứ hai. Dĩ nhiên tôi có một quê nhà, nơi mẹ sinh tôi ra, nuôi tôi lớn lên bằng từng hạt gạo thấm đẫm vị mặn mồ hôi mặn chát của người, bằng dòng sông, cánh cò thơ bé vỗ về tuổi thơ tôi những kỉ niệm êm đềm. Đó là nơi tôi vẫn thường xuyên đi về. Phố và quê trong tôi, đều là hai phần máu thịt.
          Tôi yêu quý nơi này, thành phố nhỏ gắn với tôi bao nhiêu kỉ niệm. Đó là từng con hẻm nhỏ sâu hun hút lủi thủi đi về của những năm tháng sinh viên, là từng quán cóc nhỏ dưới những tán bàng mát rượi mỗi trưa hè cho tôi tha hồ buôn chuyện trên trời dưới đất với đám bạn cùng quê, là từng vỉa hè thân quen của những chiều hết việc lang thang đếm bước tìm một chút thư thái cho lòng mình, là một góc công viên yên bình cho tôi một khoảng riêng tư đọc vài trang sách nơi ghế đá vào những chiều cuối tuần lòng không bận bịu. Phố trong tôi hiền ngoan thân thuộc nhưng từng thửa ruộng, lùm tre, từng con đường làng quanh co đất mịn, từng mái nhà tranh mờ tỏa khói lam chiều của những ngày ấu thơ.
          Phố là nơi lần đầu cho tôi gặp em. Tôi nhớ mãi, đó là một chiều chớm hạ, hàng bằng lăng vừa chớm tím những đóa dịu dàng, tôi lang thang dọc theo hè phố và vô tình bắt gặp ánh mắt em. Dịu dàng, thân thiết như đã quen biết tự khi nào, ánh mắt ấy đến bây giờ vẫn đi cùng tôi qua bao nhiêu dâu bể cuộc đời. Em là con gái miệt vườn, tôi là chàng trai của đồng ruộng, hai đứa xa quê gặp nhau rồi lại hóa gắn bó với phố nơi này. Bây giờ nhắc lại, em hay đùa, giá mà ngày ấy đừng vì mấy đóa bằng lăng, có lẽ bây giờ hai đứa chẳng phải “nợ” nhau đến hết cuộc đời thế này. Tôi chỉ cười, em cũng cười rất hiền, cảm ơn phố đã cho tôi gặp người bạn đời yên thương gắn bó.
          Phố và quê tôi vẫn hay đi về, có khi một mình nhưng chủ yếu vẫn chở vợ con theo cùng. Sau những ngày làm việc căng thẳng, tôi và gia đình nhỏ của mình lại về quê thăm mẹ, về với ruộng đồng cho con tôi biết mùi rơm rạ đã nuôi ba mẹ nó nên người. Rồi chúng tôi về lại với phố, với công việc mỗi ngày, và dĩ nhiên, với những li cafe đậm đà mỗi tối chủ nhật, với những chiều thứ bảy cùng vợ con đi dạo công viên, vào nhà sách và đến những quán ăn nho nhỏ bên đường. Hạnh phúc với tôi chỉ là vậy, là có hai quê hương để có thể đi về, để biết mình luôn không bơ lơ lạc lõng giữa cuộc đời quá to lớn này.

P.T.V (ĐH Quy Nhơn)
          
Read more…

QUÊ NHÀ BÌNH ĐỊNH TRONG "NỤ HÔN MUỘN" CỦA NGUYỄN HỮU DUYÊN - Tạp bút Phạm Tuấn Vũ

15:53 |


          Sau nhiều năm trời ấp ủ, cuối cùng, Nụ hôn muộn - tập truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Hữu Duyên – đã chính thức ra mắt độc giả mới đây. Cuốn sách do Nxb Hội Nhà văn ấn hành vào cuối tháng 3 năm 2015, tập hợp 13 truyện ngắn được tác giả sáng tác trong thời gian dài, là thành quả lao động miệt mài của một người có nhiều duyên nợ với thơ văn, như tên của tác giả, Nguyễn Hữu Duyên, dù anh đến với văn chương khá muộn.
          Đọc 13 truyện ngắn trong tác phẩm, ấn tượng đầu tiên của độc giả là những trang viết sôi nổi về một thời của tuổi trẻ và tình yêu say mê, dù người viết đã ngoài tuổi tri thiên mệnh. Bên cạnh đó, tập truyện còn là những trăn trở về cuộc sống với những Chuyện của muôn đời đã đi qua hơn nửa thế kỉ với bao nhiêu biến động thăng trầm, là tấc lòng đau đáu đối với quê nhà của người con bao năm phiêu bạt nơi đất khách.
          Có thể thấy, tập truyện không viết về đề tài quê hương, chủ yếu trong tác phẩm là đề tài tình yêu, thoảng có đôi truyện viết về đề tài thế sự. Thế nhưng bóng dáng quê hương vẫn luôn thường trực trong truyện của Nguyễn Hữu Duyên, như là một mặc cảm tha hương với ám ảnh tuổi thơ, quê nhà luôn luôn đồng vọng. Nguyễn Hữu Duyên là một người con của xứ Nẫu, dù ở nơi nào thì bản chất con người Bình Định vẫn đậm đà trong anh, để lại dấu ấn rõ nét trong từng câu chuyện anh viết. Quê nhà Bình Định vì thế luôn in dấu xuyên suốt trong 13 truyện của tập sách. Điều đặc biệt hơn, dù biểu hiện trực tiếp hay chỉ gián tiếp thoáng hiện qua kí ức, kỉ niệm thì quê nhà Bình Định vẫn được tác giả nâng niu, trân trọng và thể hiện một cách yêu mến nhất.   
          Truyện của Nguyễn Hữu Duyên rất đậm chất tự truyện, đúng như nhận định của nhà văn Mang Viên Long trong bài tựa ở đầu tập sách: “Nguyễn Hữu Duyên đã “viết về mình” rất chân thành, không giấu giếm, không cường điệu”. Nhiều chi tiết trong tác phẩm, trong đó có bối cảnh câu chuyện, đều gắn liền với cuộc đời thực của tác giả. Chủ yếu trong truyện của anh là ba không gian: Quê nhà Bình Định gắn với tuổi thơ và những năm trung học, Đà Lạt với những năm tháng của thời sinh viên và phương Nam (Sài Gòn, Bình Dương) gắn với những tháng ngày mưu sinh, lưu lạc. Có một điều dễ nhận ra, là dù bối cảnh của truyện ở đâu thì vẫn luôn có một sự liên lạc đi về giữa thực tại và quá khứ gắn liền với hình ảnh quê nhà. Đặc biệt, bao trùm cả tác phẩm, được thể hiện một cách chân thực, cảm động nhất chính là không gian quê nhà Bình Định với cảm thức hoài hương, ngóng đợi thường trực, khắc khoải.
          Nguyễn Hữu Duyên là người yêu quê nhà tha thiết (anh là chủ bút của một trang văn nghệ được nhiều người biết đến trong thời gian gần đây cũng mang tên Hương Quê Nhà), dường như hình bóng quê nhà suốt đời râm mát con người nhiều năm xa xứ đã  bước sang tuổi lục thập này và tỏa bóng xuống mỗi trang văn anh viết. 13 câu chuyện ngắn gọn, chủ yếu không hướng đến đề tài quê hương, trong dung lượng vừa phải của một tác phẩm đầu tay nhưng hình ảnh quê nhà Bình Định lại được nhắc đến thường xuyên, có vai trò quan trọng trong tổ chức câu chuyện của nhiều truyện đã nói lên điều này. Có thể nói, ít có tác phẩm nào mà quê hương Bình Định được nói đến một cách khá đầy đủ, bằng niềm tự hào, yêu quý nhất, trở thành một ám ảnh nghệ thuật như Nụ hôn muộn của Nguyễn Hữu Duyên.
          Trong tập truyện của Nguyễn Hữu Duyên, quê nhà Bình Định được hiện lên một cách khá trọn vẹn với những địa danh nổi tiếng như: con sông Trường Định (Chữ tình, Mùa xuân đang đến gần), sông Côn, đập Thạnh Hòa, khúc sông Trường Thi, tháp Cánh Tiên, tháp Bánh Ít, Cây Bông, An Thái, Tân Dân (Hoa Ngọc Anh), nhà hát tuồng Đào Tấn (Lan man), sân bay Phù Cát (Mùa xuân đang đến gần), bãi biển Quy Nhơn (Chỉ có một tình yêu); với những nhân vật lịch sử nổi tiếng như: Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ (Lan man, Chuyện về cái truyện không được đăng báo), Đô đốc Nguyễn Văn Tuyết (Lan man), nhà thơ Yến Lan (Hoa Ngọc Anh); với những đặc sản xứ Nẫu như: Nem chợ Huyện, rượu Bàu Đá (Mơ ước bên đời); với cả những giá trị văn hóa do con người nơi đây làm ra như: Võ Bình Định (Như một dòng sông), vở tuồng Quang Trung đại phá quân Thanh (trong truyện Lan man), bài thơ Bến My Lăng của Yến Lan (Hoa Ngọc Anh)…
          Đối với một người, tên quê hương, xứ sở, dân tộc bao giờ cũng là tên gọi thiêng liêng nhất. Đối với một người con xa nhà luôn khắc khoải một tấc lòng quê như Nguyễn Hữu Duyên, tên gọi chung cho quê mình bao giờ cũng được nhắc đến bằng một thái độ trân trọng, tự hào đầy cảm động: Xứ Nẫu, xứ Bàu Đá (trong Như một dòng sông), Bình Định (Như một dòng sông, Xin gởi đến em một lời xin lỗi)…
          Thậm chí ngay cả khi quê nhà không được thể hiện trực tiếp, chỉ là một cái cớ, một móc xích trong mạch truyện nhiều lúc không cần bận tâm đến, tác giả cũng nhắc về quê nhà một cách kín đáo. Đó là trường hợp truyện Chuyện của hắn. Ở truyện này, ngay đầu tác phẩm, quê quán nhân vật “hắn” được giới thiệu một cách gắn gọn: “Quê hắn cách Sài Gòn một đêm nằm ngủ trên xe là sáng đến nơi”. Đây là cách nói phiếm định, không thể xác định cụ thể địa điểm “quê hắn”. Nhưng với người Bình Định, ai cũng biết điều này. Người dân ở đây vào Sài Gòn chủ yếu đi tuyến 18h tối vì khoảng 6h sáng hôm sau là tới nơi. Chuyện của hắn gần như là một tác phẩm tự truyện, tác giả hóa thân thành “hắn” để tự bạch lại một phần cuộc đời mình. Đây cũng là một cơ sở để ta tin chắc “quê hắn” chính là Bình Định.
          Không chỉ có những đặc thù về tự nhiên, lịch sử, văn hóa, con người Bình Định với những nét tính cách đặc thù cũng nhiều lần được nói đến trong truyện của Nguyễn Hữu Duyên. Trong truyện của anh, motif chàng trai Bình Định (miền Trung) đến thành phố (Sài Gòn, Đà Lạt) học tập, lập nghiệp, sau đó quen biết, có tình cảm với cô gái nơi đây thường xuyên xuất hiện. Và trong motif này, hầu như ấn tượng của các cô gái về người yêu đều có một điểm chung: Đó là những chàng trai thật thà, chất phác, có duyên. Chẳng hạn như trong Như một dòng sông, cô bí thư chi đoàn Thủy trong bữa đầu gặp mặt đã nhận xét về Tâm mới vào Sài Gòn như sau: “Em nghe người ta nói con trai Bình Định thiệt thà, chất phác, bữa nay em mới thấy đó nha”. Hay như trong Chữ tình, nhân vật cô gái Sài thành tên Hạ khi đang cùng thầy giáo trẻ Năm (quê ở gần sông Trường Định) đi chơi ở miệt vườn Lái Thiêu đã làm nũng một cách đáng yêu: “Em nghe người ta nói, con trai miền Trung thật thà, chất phác, mà anh lại đang xạo với em đó nghen!”. Có thể thấy, bằng cách để cho các nhân vật nữ là người không phải ở Bình Định (mà ở thành phố lớn) nhận xét về con trai Bình Định, tác giả đã khéo léo thể hiện một phần những nét tính cách của con người đất võ. Bởi những nhận xét này khách quan, do đó chính xác hơn. (Dĩ nhiên, cái nhìn của các nhân vật nữ về con người quê người mình yêu vẫn phần nào thiên về cảm tính. Nhưng điều đó sẽ làm cho câu chuyện thi vị hơn).
          Cùng với tính cách con người, tiếng nói người Bình Định cũng được tác giả chú ý thể hiện trong tác phẩm của mình, tiêu biểu nhất là truyện Hoa Ngọc Anh. Đây là một trong những truyện đặc sắc nhất, cũng là truyện đậm đà dấu ấn quê nhà Bình Định nhất trong số 13 truyện. Truyện đã xây dựng thành công mối tình lãng mạn, trong sáng của hai bạn trẻ người Bình Định. Mối tình ấy chớm nở, lớn lên nhưng rồi không thể đơm hoa kết trái, tất cả đều diễn ra ở một miền quê yên bình của đất Bình Định. Trong truyện, Diệp – cô bé lớp 10 hồn nhiên, mơ mộng và xinh đẹp được xây dựng rất thành công, đậm chất người xứ Nẫu, nhất là trong lời nói. Có lẽ độc giả sẽ khó quên câu nói ngây thơ, đáng yêu của cô gái yêu hoa Ngọc Anh này: “Tại anh hết đó, đâu phải một mình anh… Ghét nẫu thiệt! Người đâu mà…”. Nẫu (đại từ nhân xưng ngôi ba, cả số ít lần số nhiều) là một “đặc sản” của phương ngữ Bình Định-Phú Yên. Người Bình Định tự hào khi gọi quê mình là “xứ Nẫu”. Chỉ với một chữ “nẫu” thôi, phương ngữ Bình Định đã được thể hiện một cách tiêu biểu trong truyện của Nguyễn Hữu Duyên.
          Có một điều đặc biệt là, hình ảnh quê nhà Bình Định trong tất cả các truyện, dù được thể hiện trực tiếp hay gián tiếp, đều hiện lên qua kí ức và gắn với những kỉ niệm đẹp. Đó là con sông Trường Định gắn với tuổi thơ sông nước khó nghèo nhưng bình yên của nhân vật Năm: “Năm là đứa con duy nhất của một gia đình làm nghề chài lưới quanh năm sống với chiếc sõng câu trên sông Trường Định, con sông chảy ngang qua cái xóm nghèo của gia đình Năm. Hồi còn học phổ thông, nhất là mấy năm cấp hai, ngoài thời gian đi học, anh thường theo ba thả lưới, cắm câu, bỏ ống trúm… được bao nhiêu chạy ra chợ bán, mua gạo mua mắm” (Chữ tình). Hay đó là xóm nhỏ ven sông Trường Định nơi An và Thi đã có những tháng ngày mới lớn êm đềm bên nhau: “Nhà An và Thi gần nhau, chỉ cách khoảng gần trăm mét. Chiều chiều, hai đứa thường ra bờ sông mót củi tre, thỉnh thoảng luồn trong đám bắp bẻ trộm; có lúc cũng không quan tâm đến chuyện con gái con trai, hai đứa nắm tay nhau nhảy ùm xuống sông tắm và đùa giỡn thỏa thích mới thôi” (Mùa xuân đang đến gần); là khúc sông Trường Thi thơ mộng nơi chớm nở tình đầu của “tôi” và Diệp: “Một buổi sáng chủ nhật cuối đông, tôi và Diệp đến với khúc sông được gọi là Trường Thi. Dòng nước trong xanh, lấp lánh dưới ánh nắng vàng. Gió se lạnh. Tiếng lá tre ngân reo trong gió” (Hoa Ngọc Anh)… Phải chăng quê nhà trong tâm thức của một người con nhiều năm xa quê (Nguyễn Hữu Duyên sáng tác tập truyện Nụ hôn muộn khi anh còn ở Bình Dương, hiện nay tác giả đã chuyển về sống tại quê nhà – Thị xã An Nhơn, Bình Định) luôn hiện về, ám ảnh trong tâm khảm với những gì đẹp nhất thuộc về kí ức. Phải chăng có một quê nhà Bình Định của tuổi đôi mươi tươi đẹp, yên bình, cất giữ nhiều kỉ niệm đẹp vẫn đi cũng Nguyễn Hữu Duyên trong suốt mấy chục năm phiêu bạt mưu sinh xứ người, lặng lẽ đi vào văn anh một cách tự nhiên, giản dị mà chân thành, đằm thắm để rồi kết tinh thành những hình tượng đẹp đẽ, lung linh.
          Có thể nói, quê nhà Bình Định gắn với những kí ức đẹp đẽ của một thời thanh xuân in dấu đậm nét trong Nụ hôn muộn của Nguyễn Hữu Duyên. Đây là tập truyện đầu tay nhưng khá chững chạc trong nhiều phương diện, trong đó lồng ghép tình cảm quê hương trong những chuyện tình yêu, thế sự. Bởi nó được viết trong những năm tháng tác giả sống tha hương, hình bóng quê nhà vẫn luôn hiện về khắc khoải. Khép lại 13 truyện của tập sách, nhiều dư vị đọng lại với từng người. Có thể đó là một thời yêu đương say mê sống lại, là những tình đầu đẹp nhưng không trọn vẹn để lại nhiều xót xa, là những năm tháng của tuổi trẻ nhiệt thành sôi nổi, là những chuyện đời muôn năm cũ đôi khi khiến ai đó chạnh lòng. Cũng có thể đó còn là tình yêu với quê hương được thể hiện một cách chân thành, nhiều khi day dứt. Đọc Nụ hôn muộn vì thế, qua những câu chuyện rất đời thường, qua những trang văn dung dị, ta vẫn có thể nhận ra nhiều điều của giá trị cuộc đời mà đôi lúc hờ hững ta vô tình lãng quên…

Quy Nhơn, 4/3/2015
 P.T.V
Read more…

NIỀM VUI TỪ MỘT CHÉN TRÀ - Tản văn Phạm Tuấn Vũ

15:01 |


          Bạn tôi, thật ra nhỏ hơn vài tuổi, là một cậu sinh viên nhưng lại có sở thích thưởng thức trà mỗi ngày. Buổi sáng thức dậy, cậu pha cho mình một ấm trà thơm nóng rồi ngồi nhâm nhi đọc sách. Mỗi khi tôi đến chơi, thể nào cậu ta cũng pha một ấm trà thật đậm ngon mời tôi. Biết anh bạn có sở thích này nên nhiều lần đến tôi thường mua theo một gói bánh ngọt, thế là anh em lại có một buổi uống trà, ăn bánh nói chuyện thật hợp ý. Cũng vì sở thích này mà bạn tôi hay bị bạn bè trêu chọc, rằng thanh niên gì mà cứ như ông già, bia rượu cà phê thì họa hằn gọi mãi mới chịu đi, còn nhắc đến trà thì khoái cả chí, cứ có bộ ấm là tìm trà pha ngay. Thật thì mấy lời này cũng chỉ để đùa cho vui, nên anh bạn tôi cũng chẳng quan tâm mấy. Tôi hay chọc cậu ta là đệ tử trung thành nhất của thú uống trà, anh bạn chỉ cười.
          Anh bạn ấy hay bảo cùng tôi, uống trà có những thú vui mà mấy món kia không có được. Anh lí giải thế này. Bia rượu đem lại hưng phấn cho con người nhưng quá chén một tí lại thành ra luông tuồng, người ta ngày nay hầu như giải quyết công việc trên bàn… nhậu. Và cũng chính từ bàn nhậu người ta đánh đổ cá tương lai, sự nghiệp của mình. Đấy là chưa kể bia rượu có vô số tai hại cho sức khỏe, thần kinh con người. Vậy mà ngặt chỗ, người ta ngày nay lại tìm đến rượu bia nhiều nhất. Anh bạn tôi hay bảo, giá mà bia rượu chỉ vừa đủ độ làm người ta hứng thú mà không thể làm họ say thì thế giới này đã tránh được biết bao nhiêu là tai họa rồi. Nhiều tai nạn giao thông thảm khốc, nhiều gia đình đổ vỡ hạnh phúc, nhiều người mất việc làm chỉ vì một lời nói, hành động không làm chủ được… đều từ say xỉn mà ra. Rượu bia lợi cũng có nhưng cái hại thì nhiều hơn gấp bội.
          Tôi lại hỏi anh ta về li cà phê, cậu ấy bảo thế này. Người ta tìm đến cà phê có khi để tìm cho riêng mình một phút thư giãn sau nhiều thì giờ làm việc căng thẳng, có khi như là một cách giết chết thời gian, cũng có khi là dịp gặp gỡ, giao lưu với mọi người. Con người ta không thể sống tách biệt, ai cũng có nhu cầu giao tiếp, nối kết. Việc chọn cho mình một góc quán thân quen với bạn bè hoặc với riêng mình là điều không thể thiếu trong cuộc sống nhiều người. Một số người lại có thói quen tìm cảm hứng làm việc từ một li cà phê, có thể ở quán hoặc tự pha cho riêng mình khi ở nhà, công sở. Cà phê ngày nay đã như một phần không thể thiếu để làm nên hương vị cuộc sống. Nhưng cũng có những điều lợi bất cập hại, như việc nhiều người hằng ngày vẫn bỏ ra hàng tiếng đồng hồ lê la ở quán cà phê, giết thời gian bằng những cuộc chuyện trò trên trời dưới đất vô bổ. Nhiều bạn trẻ ngày nay thích những buổi lê la quán xá hơn là chuyện học hành. Nhiều người nghiện cà phê tới mức ngày nào mà không có vài ba cữ là không thể chịu nỗi, cơm ăn không ngon, trong người ủ rũ, không làm được việc gì. Đây là điều rất đáng lo.
          Người ta có thể tìm đến bia rượu, cà phê bởi lí do, có thể được điều lợi hoặc chịu điều hại. Nhưng từ chén trà ta có thể tìm được nhiều niềm vui. Trà không uống ở chốn đông người, ở nơi ồn ào náo nhiệt, cũng không thể uống với nhiều quá nhiều người. Thưởng thức trà phải ở nói yên tĩnh, xa chỗ đông người, phải với người tâm đầu ý hợp. Chén trà thơm làm cho người ta khoan khoái. Trà không làm người ta say sưa, không đem lại niềm vui quá khích, không gợi lại nỗi buồn phiền, càng không để người ta rơi vào trạng thái hư vô, mất niềm tin phương hướng. Một chén trà có thể làm cho người ta thêm tĩnh tâm, khiến tâm hồn bình tịnh, thư thái, giúp trí tuệ minh mẫn. Trà không thích màu mè, không cần những chỗ sang trọng. Một góc vườn có bóng cây tiếng nước, một thư phòng bày bố giản dị mà vừa ý hay một căn phòng đơn sơ nhưng ấm cúng là nơi người thưởng thức mới có thể thấy hết cái thú của từng chén trà. Người uống trà cốt không phải để giải khát, thưởng thức trà là để hưởng lấy cái hương, cái hồn trà. Bởi vậy chén trà làm người ta có thể giúp người ta xa dần tội lỗi, khiến tâm niệm trong sáng, thanh sạch hơn. Uống trà cũng không thể gấp gáp vội vàng, người sống vội vả không hợp với chén trà. Thưởng thức trà là hưởng lấy cái vị thanh ngọt của nó. Cho nên uống trà rèn cho người ta đức tính điềm đạm, bình tĩnh an nhiên, biết lấy cái bất biến mà ứng giữa cuộc đời vạn biến. Thưởng thức trà càng không thể dành cho hạng thất phu. Người uống trà phải tỉ mỉ, cầu kì trong từng việc chọn trà, pha trà, rót trà, thưởng trà. Vậy nên, chén trà nhỏ nhưng có thể giúp người ta thêm cẩn trọng, chỉnh chu. Chén trà đơn sơ, nhưng có nhiều thú vui là như vậy.
          Người Nhật đưa trà lên đạo, trà đạo. Người Trung Quốc có lịch sử thưởng thức trà lâu đời, là quê hương của những danh trà có mặt khắp nơi trên thế giới này. Vậy từ đâu mà chén trà đơn sơ kia có được diễm phúc như vậy. Cũng dễ hiểu thôi, chén trà nhỏ bé nhưng chứa trong nó bao triết lí cuộc đời, bao thú vui tao nhã mà các thức uống khác không thể nào có được. Từ một chén trà, người ta có thể soi thấy mình trong đó, có thể điều chỉnh được tâm khí của mình. Trà vị ngọt thanh, có tác dụng giải nhiệt, giải độc cơ thể. Nhưng không chỉ thế, trà khiến con người an nhiên bình thản hơn trước những biến cố cuộc đời, có thể ngộ ra được nhiều điều kì diệu, tìm thấy được tâm thế bình thản trước những biến động hỗn phức trong thế giới ta bà vốn nhiều sự bất trắc đổ vỡ này. Không phải ngẫu nhiên mà người tu hành tìm được sự tĩnh tại từ một chén trà. Chén trà đơn sơ nhưng có thể đưa người ta lại gần nhau, hiểu nhau hơn. Uống trà phải kén người thưởng cùng. Cổ nhân dạy rằng, “rượu ngon phải có bạn hiền”, huống gì là thưởng trà vốn không phải thức uống dành cho hạng phàm phu tục tử. Chén trà thanh đạm, không màu mè khoái khẩu, nhưng lại là nhịp cầu nối cho những tâm hồn hiểu nhau, là nơi tìm đến của những tri âm tri kỉ. Chén trà nhỏ nhưng niềm vui nơi nó thì lớn vô cùng.
          Ngày hôm kia anh bạn tôi mới tậu được bộ ấm chén mới. Vừa tậu về được, cậu ta gọi ngay tôi sang mà khoe. Đó là bộ ấm chén đất rất đẹp, mầu nâu sồng, làm theo phong cách thiền. Ấm không to, chỉ đủ cho hai người thưởng thức. Tôi đã đọc được niềm vui trên ánh mắt bạn. Đấy là người phúc hậu, điềm đạm, hòa nhã, ít khi nào to tiếng, trước mọi chuyện đều bình thản vô cùng. Tôi có được vinh dự là người đầu tiên được cậu bạn này mời thưởng trà từ bộ ấm chén mới. Tự nhiên thấy trong lòng thư thái an tịnh. Chợt thấy vui vì anh bạn độc đáo này. Đâu phải người trẻ tuổi nào cũng có được thú vui tao nhã như vậy, nhất là khi cuộc sống hiện đại quá nhiều xô bồ, vội vã, con người ta hay sa vào những thú vô bổ mà tai hại vô cùng.

P.T.V (Quy Nhơn)

Read more…

CỦ KIỆU TẾT CỦA MẸ - Tản văn Phạm Tuấn Vũ

14:01 |


          Tôi thích ăn bánh tét với củ kiệu. Cho nên tết năm nào, dù có khi trời hay mưa, mẹ vẫn cố gắng làm cho tôi một hũ củ kiệu thật ngon. Tết nào cũng vậy, từ khi còn nhỏ cho đến bây giờ tôi đi làm xa, mỗi năm về nhà được đôi ba lần, mẹ vẫn giữ thói quen này, bởi hũ củ kiệu không chỉ là hương vị ngày tết, mà đó còn là những yêu thương mẹ gói ghém vào đó cho đứa con mình.
          Nhà chỉ có hai người, nên từ nhỏ, bao thương yêu mẹ đều giành hết cho tôi. Ngày xưa gia đình vất vả, mẹ đi làm mướn đủ nghề, suốt cả năm mà vẫn có những cái tết hai mẹ con chỉ làm được mấy đòn bánh tét, mua được một vài cân thịt heo. Có những năm mẹ chẳng dám sắm gì nhiều, bánh trái trong nhà chỉ mua cho có để tiếp khách, còn hai mẹ con chủ yếu trong nhà có gà vịt rau củ nào thì ăn nấy. Nên những ngày tết tuổi thơ, bánh tét ăn kèm củ kiệu là món quen thuộc nhất của nhà tôi. Mẹ bảo tôi ngày nhỏ dễ nuôi, cho ăn gì cũng được, ít khi nào đòi mẹ này kia. Tôi thích ăn bánh tét củ kiệu có lẽ cũng bởi những ngày xưa như thế. Sau này đi làm xa, mỗi lần về tết tôi đều sắm cho mẹ rất nhiều đồ. Mẹ tôi vui, nhưng rồi hay bảo, sao không tiết kiệm để ra năm còn có vốn làm ăn. Chợt thấy thương mẹ, gần một đời lam lũ khó nghèo, đến bây giờ mẹ tôi vẫn cứ sống tằn tiện, thương con mẹ chẳng nghĩ cho mình.
          Tết năm nào tôi cũng tranh thủ về sớm với mẹ, giúp mẹ sửa sang nhà cửa, nấu bánh tét và làm củ kiệu. Củ kiệu mẹ tôi làm rất ngon. Kiệu được dầm không quá mặn, lại vừa ngọt, không quá nồng mà vẫn cay cay, ăn với bánh tét rất vừa miệng, thơm dìu dịu và không bao giờ ngấy. Tôi rất thích ăn củ kiệu mẹ nấu nhưng không làm được món kiệu như mẹ làm. Mẹ hay chọc tôi, mẹ mày già cả rồi, không làm được củ kiệu mãi đâu, thích ăn củ kiệu thì kiếm cô vợ về cho nó làm. Mẹ đùa vậy nhưng tôi biết mẹ rất buồn. Tôi cũng đã gần ba mươi nhưng vẫn còn lông bông, quanh năm đi làm mãi bỏ lại mẹ với căn nhà trống vắng. Thương mẹ nên dù có những năm công việc tết có thể kiếm được mức lương cao nhưng tôi đều gác lại mà chạy về với mẹ, với mái nhà gắn với cả tuổi thơ thân thương, về để được ăn bánh tét củ kiệu mẹ làm.
          Củ kiệu mẹ tôi làm để được rất lâu, có những năm ăn ra giêng, ra hai kiệu vẫn còn thơm nức và không lên men hay bị mặn. Ngày tết, mẹ tôi ít đi chơi đâu xa. Mẹ chỉ loanh quanh thăm bà con hàng xóm rồi lại về nhà. Tôi đi chơi với bạn bè về bao giờ cũng có nồi cơm nóng mẹ dọn sẵn, và trên bàn ăn lúc nào cũng có bánh tét với đĩa củ kiệu. Tôi có thói quen ngày tết dù đã ăn gì thì vẫn muốn về nhà ăn cơm nóng, có thêm đĩa bánh tét cùng củ kiệu thì không gì bằng. Mẹ tôi là người chu đáo, bao giờ mẹ cũng biết ý tôi. Nhìn tôi ăn ngon miệng, mẹ tôi vui, rồi bà lặng lẽ vén lại hũ củ kiệu để lúc nào tôi cũng được bữa cơm ngon.
Sau những ngày ăn tết ở nhà với mẹ, qua mồng mười tôi lại vào thành phố đi làm. Trước khi lên xe đò, mẹ chuẩn bị cho tôi bao nhiêu là quà tết. Nào là bánh chưng, bánh tét và không năm nào mẹ quen làm sẵn một hũ củ kiệu để tôi mang theo. Mẹ bảo, vào trong đó đi làm, lúc nào thích thì chiên bánh tét lên ăn với củ kiệu. Chợt nghe lòng ngậm ngùi thương mẹ, cả một cuộc đời lúc nào mẹ cũng chỉ nghĩ cho tôi. Thương làm sao những củ kiệu ngày tết mặn ngọt nồng cay, như tình mẹ vẫn ngọt ngào, nồng ấm chở che cho ta qua bao nhiêu dâu bể trong đời, như nguồn cội yêu thương quê nhà níu bước ta về và neo hồn ta ở lại sau nhiều tháng năm đi mãi…

P.T.V (Quảng Nam)




Phạm Tuấn Vũ 
Read more…

VỀ GA TAM KỲ MỘT CHIỀU GIÁP TẾT - Tùy bút Phạm Tuấn Vũ

14:01 |


        Một chiều giáp tết, đáp ga Tam Kỳ sau chuyến hành trình dài mấy trăm cây số, ta đã về đến quê mẹ Quảng Nam. Một năm trời xa nhà, bon chen nơi đất khách, giữa chốn phố thành tấp nập, ta cứ đi… đi mãi mà quên cả tháng ngày. Rồi một chiều nào đó, chợt nhìn thấy những đóa mai vàng đượm nắng phương Nam, giật mình nhận ra bên thềm đã sang một tuổi. Ta thấy mình hóa bơ vơ giữa bao người lại qua, đi mà chẳng biết nơi nào đến, ta mua vé lên tàu về với mẹ, về với đất Quảng “chưa mưa đã thắm” ân tình…
        Con tàu về quê làm một hành trình dài thấm mệt, qua bao nhiêu vùng miền dọc theo mảnh đất Nam Trung bộ thân yêu, đưa ta qua nhiều nhà ga. Có nhà ga con tàu dừng bánh, có nhà ga đoàn tàu bỏ lại cùng với đường ray. Tàu dừng vội ở ga Bình Sơn, bỗng thấy lòng dâng trào nhiều cảm xúc. Đã đến ga cuối cùng tại Quảng Ngãi trên đường ra Bắc, còn một trạm dừng chân nữa là về với ga Tam Kỳ, nơi tiễn bước ta lên tàu mỗi lần ra tết và đón chân ta về sau mỗi độ cuối năm. Qua những cánh đồng xanh lúa, những cây cầu sắt vắt giữa dòng sông, qua nhiều đụn cát trắng và những vườn keo tràm, để rồi bất ngờ nhận ra một biển hiệu “Mỳ Quảng” ven đường, ta biết mình đã về tới quê nhà Quảng Nam. Được về quê sau nhiều ngày đi biệt, lòng vui sướng nhiều biết nhường nào. Chợt thấy thương con tàu vất vả, miệt mài trên con đường thiên lí độc hành đưa bao người đến người đi mà thân mình không biết ga nào đậu lại…
        Xuống ga Tam Kỳ một chiều giáp tết, lòng bồi hồi những cảm xúc miên man. Vẫn những cảnh cũ ngày nào khi bước chân lên tàu vào Nam mà sau một năm trời vẫn không thay đổi gì nhiều lắm. Có lẽ sau nhiều năm đi-về cũng từ nhà ga này mà cảnh vật nơi đây đã hóa thành thân thuộc tự khi nào ta cũng không biết nữa. Chợt thấy lòng niềm an ủi, tin yêu. Người xa quê đi mãi, hình dung đến tính tình, giọng nói đến cách ở ăn có thể thay đổi. Nhưng quê nhà vẫn một nắng hai sương, đời đời kiếp kiếp ăn ở thủy chung gắn bó. Tha hương qua bao ngày tháng, cuộc sống mưu sinh nơi đất khách quê người làm ta khác lạ, biết đâu một ngày ta làm khách trên chính quê mình. Nhưng quê hương muôn đời vẫn vậy, trước sau son sắt một lòng. Như nhà ga chiều nay ta đỗ, một năm rồi chẳng đổi khác bao nhiêu. Chiều giáp tết xuống ga Tam Kỳ, thấy yêu quê nhà mình biết mấy. 
        Đoàn tàu đỗ ga Tam Kỳ đâu chừng mười lăm phút, rồi lại hối hả lao đi, như muốn về ga cuối cùng sớm hơn mọi chuyến trước, để những hành khách sau cùng thêm nhiều thời gian về với gia đình. Lóc cóc cõng ba lô và nhiều đồ lỉnh kỉnh khác, nào áo quần, máy tính, nào những thức quà tết cho cha mẹ, mấy đứa em và bà con xóm làng, thấy trong lòng xôn xao những niềm vui khó tả. Chuyến tàu ta đi chật ních người về. Xuống ga cùng bao người con đất Quảng. Sân ga chiều nay đông hơn mọi lần. Ai cũng ánh ngời trên gương mặt niềm vui rạng rỡ dù sau một hành trình dài thấm mệt. Ta thấy trên đôi mắt những hành khách đỗ ga Tam Kỳ chiều nay niềm hạnh phúc đoàn viên sau những ngày cách xa. Ai cũng tay xách nách mang, bao nhiêu là thứ, nhiều nhất là những thức quà tết nơi phương Nam nhiều nắng, như muốn gói ghém tất cả yêu thương chôn chặt trong cả năm trời xa nhà để xuân này về trao tận từng tay người mến thương. Ta bắt gặp những con người thân thương, như chính chị em ta, hàng xóm láng giềng dù ta chưa một lần gặp họ. Nhìn ai cũng dễ gần, dễ mến biết bao. Chợt hiểu ra rằng, có những tình cảm thiêng liêng gắn bó những con người xa lạ. Tình đồng hương của những người xa xứ có thể đưa họ về gần nhau. Những hành khách đỗ ga Tam Kỳ chiều nay đều là những người con đất Quảng xa quê nay đã trở về quê mẹ, nên ta thấy như thân quen tự bao giờ. Giữa bao nhiêu người ở ga Sài Gòn, ta như kẻ lạc đường. Nhưng về ga Tam Kỳ, cũng giữa bao nhiêu người ta chưa hề gặp mặt, mà sao thấy gần gũi như quen biết lâu rồi. Hóa ra trên mảnh đất quê hương, ta tìm thấy ta. Về với quê nhà khác nào “như nai về suối cũ”, như “chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa” (Chế Lan Viên).Về đến ga Tam Kỳ, tuy rằng còn vượt hơn ba mươi cây số về miền núi nữa mới đến nhà, mà sao như đã về đến đầu làng, con ngõ…

        Ga Tam Kỳ một chiều giáp tết. Xa quê ròng rã năm trời, chiều nay đỗ ga trên quê hương nhà mà thấy lòng ấm áp. Mùa xuân lại về trên màu trời xanh có chim én theo đàn gọi nắng. Thầm muốn nói tiếng cảm ơn ga nhỏ, đón rồi đưa bao kẻ đi-về. Thương nhà ga bên đường ray chung thủy, bao mưa nắng vẫn không đổi thay lòng, tiễn những chuyến tàu đi, đón từng đoàn tàu tới, cho ta đến chân trời cao rộng, đưa ta về lại với quê hương nhà. Chiều giáp tết xuống ga Tam Kỳ, đâu phải chỉ là dừng chân ở một nhà ga, mà còn là về giữa quê nhà trong vui sướng mùa xuân…

P.T.V (Đại học Quy Nhơn)
Read more…

THƯƠNG BẾP LỬA CHIỀU ĐÔNG - Tản văn Phạm Tuấn Vũ

14:00 |


          Có những chiều đông rất buồn. Quê tôi chìm trong màn mưa giăng kín núi rừng. Mưa triền miên không dứt, như rót vào lòng người những nỗi buồn miên man. Nhà tôi ngày ấy mùa mưa nào cũng giọt, vách phên tre gió lọt lạnh lùng. Gió mùa Đông bắc tràn về, thổi run run những bàn tay lạnh, ba tôi lại ngồi nhóm bếp chiều đông.
          Có những chiều đông như thế. Ba tôi lặng lẽ xuống bếp nhóm những đóm lửa hồng rồi ngồi đó trầm ngâm. Ông khẽ châm điếu thuốc rồi đưa ánh mắt trông ra xa vời. Ngoài kia con nước đang lên, tiếng bìm bịp kêu chiều bập bềnh nỗi nhớ. Đó là những ngày mẹ xa nhà đi vào tận miền trong làm công nhân chưa về. Thương nhau, đôi bàn tay trắng lấy nhau. Cả một thời trai trẻ, ba mẹ tôi chưa được sung túc ngày nào. Hết ba lại mẹ phải thay nhau đi làm xa. Nhiều lần tôi bắt gặp đôi mắt ba tôi rưng rưng, không biết là khói bếp cay xè hay những giọt nước mắt tủi thương trong lòng cố nén chặt. Những chiều đông mẹ xa nhà, ba ngồi bên bếp nhìn ra xa vời. Thương mẹ nhưng buộc lòng để mẹ đi làm xa, nhớ mẹ ba tôi lại ngồi nhóm bếp…
          Có những chiều đông gió lạnh tràn về, lùa từng nỗi nhớ vào da. Ba anh em chúng tôi bỗng dưng ôm nhau khóc òa vì nhớ mẹ. Thương ba anh em tôi, ba lại ngồi nhóm bếp, gọi chúng tôi lại ngồi bên. Rồi ba nướng sắn cho từng đứa ăn. Củ sắn bùi nhưng thiếu bàn tay mẹ, sao từng miếng mà thấy nghẹn ngào. Cả một thời đằng đẵng, nhà tôi phải ăn sắn thay cơm. Nhưng có mẹ nhà, từ bàn tay mẹ, củ sắn bình thường bỗng hóa thành những món ngon. Nào bánh ú sắn, nào sắn luộc, sắn nướng, nào sáng nấu canh… ấy là những món gắn với tuổi thơ khó nghèo nhưng ấm áp của tôi khi có ba mẹ bên cạnh. Có những chiều đông mẹ vắng nhà, nhớ mẹ, thương con, ba chỉ biết ngồi nướng sắn cho anh em tôi. Ngoài kia nước sông đang lên, bếp lửa hồng thao thức, ba ngồi kể chuyện ngày xưa của ba và mẹ cho bọn tôi nghe. Thương làm sao những chiều như thế, bên bếp lửa tí tách bập bùng, tôi được nghe những câu chuyện đã thành cổ tích ngày nay từ ba kể lại. Ngoài hiên gió thổi lạnh lùng, ba ngồi bên bếp lửa hồng với con. Những ngày lạnh lẽo ấy, anh em tôi vẫn gặp mẹ mỗi ngày, trong từng câu chuyện của ba bên bếp lửa chiều và những củ sắn nước.
          Có những chiều đông trời trở gió, anh em tôi hay đau ốm liên miên. Cha tôi lại ngồi nhóm bếp, hơ bụng bóp chân cho anh em tôi. Trong những cơn mê man mỗi khi sốt dữ, tôi vẫn nhìn thấy được ánh mắt lo âu của ba. Và tôi biết ba lại nghĩ về mẹ, phải gì lúc này có mẹ ở bên, mẹ sẽ chăm bọn tôi chu đáo hơn. Nhà thiếu mẹ khó khăn mọi bề. Có những chiều đông như thế, ba cứ ngồi hơ bụng, bóp tay cho tôi. Cả những khi tôi thiếp ngủ đi rồi, ba vẫn ngồi im ở đó. Ông lại trầm ngâm đưa mắt xa xăm về phía chân trời thăm thẳm, nơi mẹ tôi đang vất vả từng ngày. Trên mái nhà mưa cứ triền miên, cơn gió lạnh ngoài phên xào xạt, bếp lửa hồng lại thao thức lo âu.
          Thương làm sao bếp lửa chiều đông của một thời nghèo khó. Mẹ làm xa nên cứ mỗi chiều ba lại nhóm bếp mà ngồi nghe con nước lớn ngoài sông. Bếp lửa yêu thương ba nhóm một thời thơ dại vẫn còn ấm áp trong tôi cho đến bây giờ. Qua những khó khăn, mẹ không đi làm xa nữa. Nhưng rồi anh em chúng tôi lớn lên, đứa đi làm xa, đứa vào thành phố học, chỉ còn hai ông ba thui thủi ở lại quê nhà. Mùa đông năm nay về sớm, anh em tôi chẳng ai ở nhà. Nhưng tôi biết rằng, nhớ con, chiều đông này ba mẹ tôi lại ngồi nhóm bếp lửa. Thương làm sao “một bếp lửa ấp iu nồng đượm” đã theo tôi từ thời thơ ấu cho đến bây giờ…

P.T.V (Đại học Quy Nhơn)
Read more…

THÁNG MƯỜI CỦA PHỐ - Tản văn Phạm Tuấn Vũ

14:00 |


Có một thành phố nhỏ, như mảnh trăng non trong bài thơ ngăn cặp, nằm cong cong ôm lấy biển dịu dàng. Ở nơi ấy, vẫn những ngã tư đường đèn xanh đèn đỏ phải dừng chân đôi phút mỗi ngày, vẫn từng dòng xe đi qua hối hả, mà sao bình yên như chính quê nhà. Tiếng còi không chát búa, chỉ có biển chiều chiều tự đàn hát say sưa...

Phố xinh như bàn tay con gái. Ừ thì, chỉ vài chục con đường, dăm ba tòa cao ốc, đi một vòng vẫn còn thấy dấu chân. Chẳng ai nghĩ rằng, chưa quá 9h tối phố đã vắng người. Vậy mà ở nơi ấy, chỉ cần một góc quán thân quen, một con phố nhỏ đêm về đếm bước lang thang, người ta có thể nghe từng chiếc lá bàng rơi khẽ, từng tiếng xe đâu đó vọng về. Ở ngoài kia biển ru bờ cát, trăng đưa bóng hàng dương và sóng hát rì rào.

Có những người thương phố, nên ở xa tìm về, đi qua nhiều ngày tháng rồi hóa yêu thương. Nhiều người chọn nơi ấy cho bốn năm đầu tiên khi bước vào đời của họ, chẳng nhiều lắm ưu phiền, cũng không bộn bề tất tả, phố nuôi nấng họ lớn lên, giữ cho họ những kỉ niệm êm đềm của một thời khờ khạo, đi cùng họ những bước dè dặt trong đời.

Tháng 10 của phố, chẳng có cái heo may se se lạnh, chẳng bảng lảng khói sương hay những cơn mưa bất chợt. Chỉ có những sớm mai trời cao và trong, nắng vàng ươm không gắt. Và hè phố hàng xà cừ lá vẫn cứ xanh. Chỉ có người đi thầm lặng. Một li cà phê sữa cho chiều môi ngọt, một cốc rượu quán cóc vỉa hè để ấm mình trước lúc ra đi.Tấm bằng được trao, hoặc là những lần hẹn hò đã lỡ, người đến rồi xa, chỉ có phố là ở lại, gói ghém từng kỉ niệm làm hành lí cho người...

Có những tháng 10 của phố, dịu dàng như một tách cà phê sữa cuối ngày. Cũng có tháng 10, phố ngậm ngùi buồn thiu. Vẫn biết rằng đến rồi phải đi, phố chỉ đưa người ta qua một chặng đường ngắn. Người ta ở ăn với phố, nhưng sẽ đến lúc phố không níu được chân người. Họ đi đến một miền đất mới, hay là trốn về một chốn hoang vắng nào, chỉ có phố nằm lại. Rồi từng đêm một mình ru câu ca ngày cũ, sống ôm bờ lặng khóc nỉ non...

Tháng 10 này bạn tôi lại đi, xa thành phố như không một lần trở lại. Họ đã cùng tôi đi qua nhiều năm tháng, đói khổ có nhau, chia từng li cafe vỉa hè 5 ngàn một cốc, đốt chung điếu thuốc khét lẹt hạng tư, lang thang từng con phố nhỏ, lê la từng góc quán tồi tàn. Vậy mà cứ thế, qua bao nhiêu tháng ngày, mỗi người thêm lớn, biết rằng vẫn còn có một ai đáng tin bên mình, như phố nhỏ hiền ngoan chưa một lần phản trắc...

Phố biển, 13-10-2014
P.T.V (Đại học Quy Nhơn)
Read more…

LỜI RU CỦA CHA - Tạp bút Phạm Tuấn Vũ

15:00 |


Tôi lớn lên, trong những năm đất nước sau đổi mới còn nhiều vất vả. Quê hương tôi xa tít nơi những cánh rừng, cách thành phố mấy chục cây số, đến bây giờ vẫn chưa hết khó nghèo. Bà con quê tôi ngày ấy nhiều người bỏ xứ mà đi, người vào miền Nam, người lên Tây Nguyên lập nghiệp. Cha mẹ tôi thương ông bà đã già, lại không nỡ rời mảnh đất gia tổ mà ở lại đến giờ. Nhưng rồi cuộc sống bấp bênh, mẹ phải đi làm xa, một năm chỉ về được đôi ba lần. Mẹ tôi xa nhà khi tôi vừa cai sữa, để lại lời ru cha phải hát thay.
Cha tôi không biết hát ru. Lời ru ầu ơ ngọt ngào “ví dầu cầu ván đóng đinh”, sau này tôi chỉ được nghe lại khi mẹ ru mấy đứa em. Cha ngày ấy hay đặt tôi vào võng mắc dưới gốc vú sữa bên nhà, rồi ngồi đưa võng và hát những bài tình ca tiền chiến, những khúc quân hành cho tôi ngủ. Tôi ngày bé dễ nuôi, nghe cha hát vài câu là đã vùi say giấc, nên cũng đỡ cho cha dỗ dành khi nhà vắng mẹ. Sau này ông hay nhắc chuyện cũ, mỗi lần nhắc lại là nước mắt mẹ rơi. Bà cứ tự trách “nhà mình hồi đó khổ quá, mày phải chịu thiệt hơn mấy đứa em…”.
Lời ru của cha tôi không ngọt ngào, mềm mượt. Đi qua khói lửa chiến tranh, qua những ngày cơ cực, lời ru cha trầm buồn như chất chứa bao tâm sự, nỗi niềm. Tôi biết, có những lần ru tôi, cha đã rưng rưng đôi mắt. Có những chiều đông mưa sầu giăng kín, cha lại ngồi đưa võng bên cột nhà, hát bài tình ca cho tôi mau ngủ. Giọng ông đục như nước ngoài sông đang lên và buồn buồn như tiếng bìm bịp kêu chiều nước lớn. Ông đâu chỉ ru tôi, mà còn ru cho cả mẹ đang dãi dầu nơi đất khách quê người. Cha mẹ tôi nghèo, thương nhau rồi đến với nhau bằng đôi bàn tay trắng. Thương cha, mẹ một thân vào thành phố làm công nhân. Thương mẹ, cha chỉ biết ngậm ngùi. Có những buổi chiều như chiều mùa đông ấy, tôi say ngủ rồi, cha lại ngồi lặng im, ánh mắt đăm đăm về một phương trời xa xôi, gương mặt yên bình mà trong lòng biển động.
Tôi lớn lên trong cánh võng đưa, đó là kỉ vật thiêng liêng của một người đồng hương, đồng chí trao cho cha trước khi nằm lại trên chiến trường K đất bạn. Bài hát cha ru là những bài ca bên cánh võng, của một thời máu lửa đạn bom. Đó là những bài ca năm tháng da diết nghĩa tình. Cả đời cha tôi nhiều lí tưởng, từng chiến đấu anh dũng nơi chiến trường Cam-phu-chia, giải ngũ ông trở về với gia đình, rồi cuộc sống khó nghèo vây riết, thời trai trẻ của ông dần trôi đi để đến bây giờ cha tôi vẫn còn day dứt vì những dự định chưa thành. Tôi lớn lên trong lời ru trầm của cha, nhưng tôi biết trong những câu hát ấy, ông gói ghém tất cả yêu thương kì vọng vào đứa con trai đầu lòng, cho mai sau tôi lớn lên, bay ra với trời rộng, làm thành những ước mơ cha tâm niệm một đời.
Tôi đã đi qua tuổi thơ trong cánh võng chiến trường kỷ vật và bằng lời ru trầm lắng của cha. Đó là những bài ca đã đi cùng ông qua nhiều năm tháng cuộc đời. Lời ru của cha không mượt mà, êm ái mà trầm lắng, nhiều lúc u buồn. Bởi tôi hiểu lòng cha tôi trong những ngày vắng mẹ, trong những khi hoài niệm một thời. Lời ru của cha cũng dào dạt như lời ru của mẹ, nuôi nấng tôi khôn lớn thành người, rồi tôi cũng sẽ hát ru con bằng lời ru ấy, để chúng nó hiểu rằng, không ai yêu thương mình bằng cha mẹ, không khúc hát nào ấm lòng như khúc hát cha mẹ từng ru…


P.T.V (Đại học Quy Nhơn)
Read more…