Trang Văn Thơ Việt Nam

ĐI TÌM DẤU TÍCH CHĂM BÊN DÒNG SÔNG CÔN - Tạp bút Vân Phi

14:30 |
              
          Sông Côn là dòng sông lớn nhất của tỉnh Bình Định với chiều dài 171 km, khởi nguồn từ  miền núi phía Tây huyện An Lão và xuôi về đầm Thị Nại. Trải qua những thăng trầm biến đổi nhưng dòng sông Côn vẫn rì rầm sóng biếc, đôi bờ trù phú đã từng một thời chứng kiến những đổi thay thế cuộc.  Từ thượng nguồn về biển lớn, dấu tích ngàn xưa vẫn còn lưu lại, ta đi nhặt những mảnh vỡ thời gian của nền văn hóa Champa (Chăm).
          Từ phía thượng nguồn Tây Sơn, sông Côn chảy qua thị xã An Nhơn giao thủy với một nhánh nhỏ từ hồ Núi Một chảy xuống và chia thành hai nhánh Bắc Phái và Nam Phái ở hạ nguồn. Dòng Côn giang đã tạo nên nguồn cảm hứng để những nhà văn, nhà thơ viết nên những tác phẩm trác tuyệt, sống mãi ngàn đời. Ta đã thấy một “Sông Côn mùa lũ” tỉ mẫn tâm huyết của Nguyễn Mộng Giác, một Chế Lan Viên gào khản những ước vọng về thời vàng son Champa đã quá vãng. Cho dù nền văn hóa Chăm chỉ tồn tại 5 thế kỷ (cùng với sự tồn tại của thành cổ Đồ Bàn – PV) nhưng đã để lại những dấu ấn rất riêng làm nên nét đặc sắc của Bình Định được cả thế giới biết đến. Sau những biến cố lịch sử, có nhiều di tích đã bị phá hủy. Tuy những gì còn sót lại không nhiều nhưng cũng đủ để nhìn nhận lại một nền văn hóa Chăm đặc sắc, gói gọn trong ba chữ “thành, tháp, gốm”.

        Thành cổ chỉ còn những nét hoang sơ
         Các thư tịch cổ và những tác phẩm “Thiên Nam chí lộ đồ thư”; “Lịch triều hiến chương loại chí”; “Đại Nam nhất thống chí”; “Đồ Bàn thành ký”cho biết vùng đất Bình Định xưa có tổng cộng 4 tòa thành cổ, nhưng thực tế hiện tại chỉ còn 3 tòa thành lưu lại dấu tích. Cả 3 tòa thành này đều phân bố dọc theo lưu vực sông Côn và nằm cách nhau từ 10 đến 12 km. Đó là thành Chas (Nhơn Lộc-An Nhơn), thành Đồ Bàn (Nhơn Hậu-An Nhơn) và thành Thị Nại (Phước Hòa-Tuy Phước). Sự có mặt của 3 tòa thành cổ đã phần nào nói lên tầm quan trọng của vùng đất Bình Định dưới thời vương quốc Chăm, đặc biệt là thành Đồ Bàn.
       Năm 982 dưới triều đại vua Yangpuku Vijaya (âm Hán-Việt là Ngô Nhật Hoan?) thành Đồ Bàn được xây dựng. Thành này được các sử gia gọi đúng chức năng của nó là kinh đô Vijaya. Đây cũng là kinh đô cuối cùng của vương quốc Champa, các vua Chăm đã đóng đô ở đây đến thế kỷ XV. 
Từ khi xây dựng kinh đô bên dòng sông Côn đất đai trù phú, đời sống phồn thịnh, dệt vải, điêu khắc mang đậm dấu ấn Chăm, những điệu múa của các thiếu nữ Chăm dưới ngọn lửa đêm trong tiếng chiêng đồng làm say lòng kẻ khác.
Theo dòng lịch sử, sau hơn 3 thế kỷ bỏ hoang, đến cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Nhạc nhà Tây Sơn đã xây dựng thành mới trên nền cũ thành Đồ Bàn để làm kinh đô, lấy tên là thành Hoàng Đế. Năm 1799 quân chúa Nguyễn Phúc Ánh tái chiếm thành Hoàng Đế và đổi tên là thành Bình Định. Sang triều Gia Long năm 1816, nhà vua cho phá bỏ thành Bình Định và chuyển thủ phủ về Quy Nhơn.
          Qua những biến đổi thăng trầm, di tích Đồ Bàn hiện nay chỉ còn sót lại lớp tường lũy bằng đá ong không lành lặn, phía trong thành là lối đi lát đá hoa cương, một thửa giếng vuông, tượng voi đá, và bên cửa hậu là gò Thập Tháp. 

         Tháp cổ Champa –  Hạt ngọc giữa trời
         Tháp là một dạng kiến trúc tôn giáo mang bản sắc rất riêng của dân tộc Chăm, theo các sử liệu thì người Champa đã xây dựng khá nhiều đền đài. Nhưng trải qua những cuộc chiến tranh liên miên, cộng với sự tàn phá của thiên nhiên, con người, cho đến nay trên vùng cư trú xưa của họ chỉ còn lại một số ít dạng kiến trúc đền đài ấy. So với một số địa phương khác trong dải đất miền Trung, Bình Định là một trong những nơi còn để lại khá nhiều dấu tích của nền văn hóa Chăm với 8 cụm di tích tháp trên tổng số 14 tháp phân bố bên đôi bờ sông Côn.
          Tháp Chăm trong Ấn Độ giáo người ta gọi là Sikhara, một dạng kiến trúc tiêu biểu cho đạo Bà-la-môn. Các tháp đều được xây dựng theo một tín ngưỡng thống nhất thờ thần Shiva, một trong tam vị nhất thể của đạo Bà-la-môn. Shiva tượng trưng cho sự sáng tạo và hủy diệt, hai vị thần kia là Visnu tượng trưng cho sự bảo tồn và Brahma tượng trưng cho sự sinh thành, cả ba nằm trong vòng luân chuyển không ngừng. Người Chăm thờ thần Shiva là chính, tín ngưỡng này được kết hợp với tục thờ cúng tổ tiên tạo thành bản sắc riêng trong đời sống tinh thần của họ.
          Kỹ thuật kiến trúc và điêu khắc Chăm cho đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn đối với các nhà nghiên cứu. Làm thế nào để ghép tất cả những viên gạch nâu sẫm một cách chính xác và tinh xảo thành những tháp, tượng hoành tráng đến vậy? Cái gì đã tạo thành sự kết dính của những viên gạch ấy khiến nó có thể đứng vững hơn một ngàn năm nay? Đã có nhiều cuộc khảo nghiệm và hội thảo diễn ra nhưng vẫn chưa có kết luận cuối cùng. Chính điều đó cũng đã gây không ít khó khăn trong quá trình trùng tu và giữ gìn di sản.
          Tồn tại trong 5 thế kỷ, trên vùng đất Bình Định xưa người Champa đã xây biết bao những kiến trúc tôn giáo. Những gì còn sót lại hôm nay chỉ là một phần nhỏ trong những di sản mà người Chăm làm ra. Những tháp Chăm còn lại hôm nay là những viên ngọc quý của nền kiến trúc cổ Việt Nam cũng như văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á. Khi định niên đại cho các tháp Chăm thuộc phong cách Bình Định, các nhà sử học và khảo cổ học đã đưa ra một giả định như sau: Phong cách bắt đầu từ tháp Bánh Ít hay còn gọi là tháp Bạc (nửa đầu thế kỷ XII), tháp Dương Long (đầu thế kỷ XIII), tháp Hưng Thạnh (nửa đầu thế kỷ XII), nở rộ ở các tháp Thủ Thiện, Cánh Tiên (hay tháp Đồng), Phú Lốc (hay tháp Vàng) thuộc thế kỷ XIII.
          Trong đó, tháp Cánh Tiên ở thị xã An Nhơn được xây dựng vào thế kỷ thứ XII, dưới đời vua Chế Mân (Jaya Sinbavarman III). Tương truyền, đây là ngôi tháp Chế Mân dành tặng hoàng hậu Paramecvari tức Huyền Trân công chúa, người con gái Việt cao quý đã đặt quyền lợi dân tộc mình lên trên hết, cùng vua Chế Mân kết mối lương duyên lịch sử.
          Đặc biệt, khi đi qua đoạn cầu Đề Gi (nơi giao nhau giữa quốc lộ 1 và quốc lộ 19 – PV) nhìn về phía Đông - Bắc tầm 500m, ta sẽ thấy chon von những ngọn tháp cao trên đỉnh đồi in nền trên nhánh sông Côn, đó chính là cụm tháp Bánh Ít gồm 4 tháp: tháp Cổng, tháp Hỏa, tháp Bia và tháp Chính. Di tích được xếp hạng vào cấp quốc gia ngày 24/12/1982. Tháp này đã được đưa vào cuốn sách “1.001 công trình kiến trúc phải đến trong cuộc đời” của một nhóm tác giả người Anh. Đây cũng là công trình kiến trúc cổ duy nhất của Việt Nam lọt vào cuốn sách này.
         Cuốn sách là một công trình của nhiều tác giả đến từ nhiều nơi trên thế giới, do cây bút chuyên viết về kiến trúc Mark Irving làm Tổng Chủ biên, Quintessence (Anh) xuất bản, được những giáo sư, kiến trúc sư, nghiên cứu sinh đầu ngành chuyên viết về kiến trúc biên soạn. Trong đó, phần viết về tháp Bánh Ít do Stephen Anthony Murphy, một nhà khảo cổ học từng làm việc tại nhiều quốc gia như Anh, Pháp, Thái Lan, Ireland, Singapore và Nhật Bản, đã nhận bằng Tiến sĩ về khảo cổ học Đông Nam Á tại Trường Nghiên cứu Phương Đông và Châu Phi, Đại học London, Anh, chắp bút. Đây không những là niềm tự hào của người dân Bình Định mà còn là niềm vui lớn của Việt Nam.
         Tuy nhiên, nhìn lại cụm tháp Bánh Ít hiện nay, dù đã qua không ít lần trùng tu sửa chữa nhưng vẫn đang trong tình trạng “chắp vá” theo kiểu xây dựng thông thường bằng… xi măng và gạch nung nguyên khối, làm mất đi vẻ đẹp nguyên sơ của tháp. Mặc khác, nhiều chỗ gạch còn vị vỡ ra, khuyết một mảng lớn trong lòng tháp. Việc lát đá hộp dựng đường để chiếm lĩnh độ cao của tháp, làm xe ô tô cũng có thể lên được đỉnh đồi đã làm “nhòa” đi vẻ huyền bí linh thiêng của tháp cổ. Gần đây, ông Hồ Quốc Dũng, Chủ tịch UBND tỉnh đã trực tiếp khảo sát tháp. Ông nhấn mạnh: “Tháp Bánh Ít là một công trình kiến trúc quý, hiếm, có giá trị nghệ thuật lớn cần được trân trọng, giữ gìn và phát huy xứng tầm. Đồng thời, phải có kế hoạch quảng bá vẻ đẹp của tháp Bánh Ít nói riêng cũng như không gian văn hóa Chăm Bình Định nói chung một cách thật bài bản, hiệu quả”.
        
        Gốm cổ, nét văn hóa tinh xảo của người Chăm (?)
         Các khu lò gốm Bình Định tính đến nay có 5 nhóm. Riêng ở thị xã An Nhơn có đã có 3 nhóm gồm: Gò Sành, Gò Cây Ké, Gò Hời. Tất cả các khu di tích này đều nằm dọc hai bờ sông Côn chảy vào vịnh Thị Nại (cảng Quy Nhơn ngày nay), một vị trí thuận lợi để vận chuyển bằng đường thủy. Trong đó, gốm cổ Gò Sành tại Phụ Quang được các nhà nghiên cứu quan tâm nhất.
        Tháng 3/1974, một đoàn khảo cổ học từ Sài Gòn đã đến Phụ Quang (thuộc Nhơn Hòa, An Nhơn, Bình Định) để tìm hiểu nghiên cứu. Tuy chưa có cuộc khai quật nào nhưng họ đã đưa ra giả thuyết về chủ nhân những đồ gốm nơi đây là người Chăm. Hơn 10 năm sau, dựa vào những hiện vật gốm có nguồn gốc từ Gò Sành trong bộ sưu tập của Hà Thúc Cần, trong luận văn tiến sĩ của mình, Rosana Brown - một chuyên gia nghiên cứu gốm cổ Đông Nam Á đã giành một chương viết về đồ gốm và khu lò gốm Gò Sành. Từ những thông tin trên, Viện khảo cổ học Hà Nội, Bảo tàng Tổng hợp Bình Định đã hoạch định một chương trình nghiên cứu lâu dài tại Gò Sành và toàn bộ di tích gốm cổ trên đất Bình Định.
  Năm 1987-1990, cùng với Viện Khảo cổ học, Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định đã tiến hành điều tra tổng thể các loại hình di tích văn hóa Chămpa, lập hồ sơ khoa học và bản đồ khảo cổ học các di tích phế tích trên địa bàn tỉnh Bình Định.
  Đáng chú ý là từ những năm 1990-1994, Viện Khảo cổ cùng phối hợp với Sở Văn hóa - Thông tin Bình Định điều tra, khảo sát, khai quật một số địa điểm thuộc trung tâm sản xuất gốm Gò Sành (Nhơn Hòa - An Nhơn - Bình Định) và xác định một số di tích lò gốm khác thuộc An Nhơn và Tây Sơn.
         “Từ cách đây 20 năm, đã có rất nhiều người tìm đến Gò Sành để mua các loại chén, đĩa, bình cũ. Họ sẵn sàng đổi nguyên bộ chén bát mới để lấy một cái đĩa cũ có chạm khắc hoa văn. Nhiều người dân đã bán hoặc đổi, về sau họ mới biết những món đồ cũ kia giá trị hơn nhiều. Dọc bờ sông Côn, vẫn còn nổi lên những mảnh sành sứ đã vỡ. Có người đã nhặt được những cái bát cũ còn nguyên, khi búng ngón tay vào kêu rất thanh”, ông Nguyễn Văn Lâm, chủ của thửa đất khai quật lò Cây Mận chia sẻ.
          Đến năm 1994 bên cạnh các nhà khoa học Việt Nam, có thêm sự hợp tác của các học giả Nhật Bản. Trong số các di chỉ lò đã được xác định ở 5 vị trí thuộc phạm vi vùng Vijaya trước đây, lò Cây Mận, lò Cây Quăng và lò Hời nằm ở khu lò gốm Gò Sành.
        Hiện nay, sản phẩm gốm Gò Sành được lưu giữ khá nhiều trong Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định. Xem xét và nghiên cứu bộ sưu tập này có thể giúp ta hình dung rõ nét hơn về vai trò của di tích khu lò gốm này trong lịch sử. Những sản phẩm được sản xuất ở Gò Sành phần lớn xương có màu xám mực, đỏ nhạt, kỹ thuật giai đoạn sớm dùng con kê, men tráng gần sát đáy, giai đoạn muộn dùng kỹ thuật ve lòng. Men gốm dày đều và màu men không ổn định đã tạo ra một sắc thái riêng cho gốm Gò Sành.
         Những thông tin gần đây cho biết, gốm Gò Sành Bình Định sản xuất ra không chỉ để phục vụ đời sống người Chăm đôi dòng sông Côn mà còn tham gia vào thị trường xuất khẩu sang các nước trong khu vực Đông Nam Á và xa hơn là Ai Cập. Trong số những hiện vật tìm thấy trên con tàu đắm ở quần đảo Calatagan ngoài khơi đảo Pantanan thuộc Philipphines có tới hàng ngàn đồ gốm có xuất xứ Gò Sành.
         Cho đến nay chưa có đủ tư liệu để khẳng định một cách chắc chắn niên khởi đầu cho việc sản xuất đồ sành xứ ở Gò Sành nói riêng và của người Chăm nói chung, nhưng qua những kết quả khai quật khảo cổ tại Gò Sành và ở nước ngoài có thể thấy rằng giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nghề sản xuất sành sứ ở đây nằm trong khoảng thế kỷ XV-XVI. Có một số chuyên gia Việt Nam cho rằng khởi điểm của việc sản xuất gốm Bình Định có thể bắt đầu từ cuối thế kỷ XIII đến thế kỷ XV, chậm lắm là đến thế kỷ XVI.
         Căn cứ vào các tư liệu lịch sử liên quan đến quá trình hình thành và phát triển vùng đất Bình Định, phân tích loại hình các sản phẩm được sản xuất ra, so sánh những mô típ trang trí trên các hiện vật với những tư liệu điều tra dân tộc học có thể đi tới kết luận: chủ nhân lò gốm Gò Sành và các khu lò gốm cổ khác ở Bình Định không ai khác ngoài người Champa cổ.
        Như vậy, gốm cổ kết hợp với kiến trúc xây dựng độc đáo của những ngọn tháp đặc sắc, tinh tế và những vết tích lưu lại của thành cổ Champa đã tạo nên một văn hóa Chăm bên dòng thủy lưu Côn giang sẽ còn lưu truyền mãi đến tận muôn đời./.

V.P (Bình Định)

                                                                                         

Read more…

NGƯỜI NHIỀU SÁCH NHẤT MIỀN TÂY NAM BỘ - Bài của Lê Thiếu Nhơn

15:00 |

Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài



Nằm ngay chợ Châu Long - một địa chỉ nổi tiếng kinh doanh đồ cũ ở thành phố Châu Đốc, nhưng căn nhà khang trang của nhà thơ Trịnh Bửu Hoài lại không buôn bán gì. Tầng một dành cho con trai mở tiệm internet, còn hai tầng bên trên chủ yếu để nhà thơ Trịnh Bửu Hoài chứa… sách! Khách đến thăm, được chủ nhân bệ vệ dắt đi dòm hết tủ sách nọ đến ngắm kệ sách kia, mà cứ ngỡ lạc bước vào một thư viện! Với nhà thơ Trịnh Bửu Hoài, hơn 25 ngàn cuốn sách là tài sản tích cóp suốt cả cuộc đời ông!

Trước hết, Trịnh Bửu Hoài là một nhà thơ, một gương mặt cầm bút tiêu biểu của đồng bằng sông Cửu Long. Cha mẹ quanh năm gắn bó với ruộng đồng thấm đẫm phù sa sông Hậu, nhưng từ nhỏ Trịnh Bửu Hoài đã đam mê văn chương. Tuổi 14, Trịnh Bửu Hoài đã có thơ đăng báo. Những năm trọ học ở Long Xuyên và Cần Thơ, phần lớn số tiền gia đình cấp dưỡng đều được Trịnh Bửu Hoài dùng để mua sách. Lâu lâu về thăm nhà, cũng chỉ mang theo… sách. Mẹ của Trịnh Bửu Hoài thương con, nhường luôn cái rương quần áo duy nhất trong nhà cho đứa con trai đựng sách để khỏi ướt mỗi mùa mưa phương Nam.

Mấy bận nước lớn nước ròng, khi học xong phổ thông, Trịnh Bửu Hoài mang thành tích cá nhân báo cáo với cha mẹ, gồm một tấm bằng Tú tài và… hơn hai ngàn cuốn sách chủ yếu là triết học và thi ca. Những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, bom đạn diễn biến rất ác liệt, căn nhà ngoại ô đô thị sát biên giới dẫu đơn sơ thông thốc tứ bề, thì bao nhiêu sách của Trịnh Bửu Hoài vẫn được song thân gìn giữ cẩn thận và nguyên vẹn. Còn Trịnh Bửu Hoài chí trai vẫy vùng khắp các chuyến phà ngang dọc miền Tây, thỉnh thoảng ngoái lại chốn chôn nhau cắt rốn mà rưng rưng: “Ngước mặt về tây Thất Sơn sừng sững. Áo giang hồ cuồn cuộn gió phương đông”.

Sau năm 1975, Trịnh Bửu Hoài về làm phóng viên cho Đài phát thanh Châu Đốc, rồi làm Chủ tịch Hội văn nghệ thành phố Châu Đốc, rồi làm Chủ tịch Hội văn nghệ tỉnh An Giang. Sự nghiệp thăng tiến đến đâu thì… số lượng sách của Trịnh Bửu Hoài tăng trưởng lên đến đấy. Vốn bản chất một tài tử Nam bộ chân thành, hào hoa và phóng khoáng, Trịnh Bửu Hoài kết giao bạn bè mọi miền Tổ quốc. Ngoài những cuốn sách tự mua, Trịnh Bửu Hoài có khoảng 10 ngàn cuốn sách có chữ ký tác giả với lời đề tặng trìu mến.

Thế nhưng, được tri âm tặng sách thì khoái, mà bị tri kỷ mượn sách thì… uất. Mỗi lần thấy vẻ mặt Trịnh Bửu Hoài có chút muộn phiền, là người vợ biết ngay chồng mình trót cho ai đó mượn sách nhưng họ quên… trả. Thấu hiểu và thông cảm cho chồng, người vợ gợi ý: “Bạn nào muốn đọc sách, thì anh cứ mời đến nhà mình mà đọc thoải mái. Thậm chí, bạn nào cần nghiên cứu lâu dài, thì mình nuôi ăn ở dăm bữa nửa tháng cũng không sao!”. Đàn bà độ lượng quả thật có mưu cao kế đẹp, Trịnh Bửu Hoài từ đó làm theo phương pháp của người vợ, không còn nỗi buồn mất sách nữa. Và từ đó phòng khách của Trịnh Bửu Hoài thường xuyên tấp nập khách văn chương, mà nhân vật lui tới nhiều nhất là Sơn Nam. Muốn biên khảo về núi Sam, kênh Vĩnh Tế hay hành trình mở đất của Thoại Ngọc Hầu, thì Sơn Nam từ Sài Gòn bắt xe đò xuống Châu Đốc, tha hồ ngụp lặn trong kho tư liệu khổng lồ của Trịnh Bửu Hoài, mà không lo canh khuya bụng đói vì lúc nào cũng có sẵn cơm bưng rượu rót. Có lẽ vì tình nghĩa ấy, nhiều tác phẩm in thuở nảo thuở nao chỉ còn một bản, cũng được Sơn Nam ân cần trao lại cho Trịnh Bửu Hoài!  

Phòng làm việc của Trịnh Bửu Hoài luôn tràn ngập sách, nên mỗi khi thay đổi công tác là rắc rối vì sách. Nhận quyết định làm Chủ tịch Hội văn nghệ An Giang rồi, không lẽ còn chiếm dụng căn phòng ở Hội văn nghệ Châu Đốc để chứa sách sao, Trịnh Bửu Hoài cân nhắc mãi vẫn không có cách giải quyết hữu hiệu, đành ngỏ ý nhờ cậy mẹ ruột. Nghe Trịnh Bửu Hoài lễ phép thưa: “Má à, con sắp lên Long Xuyên nhận nhiệm vụ mới…”, bà mẹ đã sinh ra con không lẽ không rành tâm tính con, liền chốt hạ: “Cái nhà của mày có chút xíu, mày chở sách về thì vợ con mày ngủ ở đâu. Cứ đem qua đây, tao ngó chừng dùm cho!”. Trịnh Bửu Hoài mừng rỡ vâng dạ rối rít, và gửi sách đến nhà mẹ ruột, bằng… một chiếc xe tải!

Vừa mới gỡ được một bàn thua gay cấn, nhưng vừa ngồi chưa nóng cái ghế Chủ tịch Hội văn nghệ An Giang thì thú chơi sách của Trịnh Bửu Hoài lại nổi dậy. Sách dày sách mỏng, sách Tây sách Tàu được Trịnh Bửu Hoài nâng niu, đã bủa vây Trịnh Bửu Hoài. Phòng ở riêng mà Nhà nước cấp cho cán bộ xa nhà, được Trịnh Bửu Hoài trưng dụng làm phòng chứa sách. Mỗi tối, Trịnh Bửu Hoài vác mùng mền sang ngủ ké phòng họp của cơ quan. Hoàn cảnh bi tráng ấy kéo dài suốt nhiều năm, mà ông Chủ tịch Hội văn nghệ An Giang vẫn cảm giác sung sướng râm ran!

Khi mở tiệc tiễn Trịnh Bửu Hoài nghỉ hưu, lãnh đạo tỉnh An Giang không ngần ngại đưa ra một đối đãi đặc biệt: cấp xăng xe cho Trịnh Bửu Hoài chở sách về quê. Xăng đổ đầy bình, xe chạy liên tục bảy chuyến Long Xuyên – Châu Đốc có khoảng cách 50 cây số, mới hoàn thành sứ mệnh luân chuyển sách ngoạn mục!
                                                  


Trịnh Bửu Hoài nói về căn nhà ba tầng khang trang ở ngay chợ Châu Long của mình: “Vợ con tui đều sống giản dị, đâu có ham hố gì tường xây với cửa rộng. Tui dành dụm làm cái nhà thật to, là để có nơi trưng bày sách!”. Thật sự, những kệ sách ở nhà Trịnh Bửu Hoài rất trang trọng và ngay ngắn. Trịnh Bửu Hoài sắp xếp sách theo từng thể loại, theo từng tác giả, theo từng cột mốc thời gian ấn hành. Mỗi ngày thong dong và đắm đuối giữa thế giới sách mênh mông, Trịnh Bửu Hoài giống như một thủ thư tận tụy và nghiêm túc. Có nhiều người chỉ thích ngắm sách, chứ chẳng mấy khi đọc sách. Trịnh Bửu Hoài thì khác, ông thẳng thắn: “Trong số sách mình sở hữu, tui đã đọc trọn vẹn hơn 15 ngàn cuốn, còn 10 ngàn cuốn kia thì đọc kiểu trích lục để viết bài!”. Nói vậy là đàng hoàng và sòng phẳng!

Tuy nhiên, khẳng định Trịnh Bửu Hoài nhiều sách nhất miền Tây, thì không chỉ đề cập đến sách do ông sưu tầm, mà còn tính luôn sách do ông sáng tác. Trịnh Bửu Hoài không chỉ thao thức trong những câu thơ phiêu lãng: “Đã mấy năm dư không về nữa. Cuối nẻo trời quê mây trắng bay. Đời ta như một hòn bi nhỏ. Cứ lăn đi trên những dốc dài”, mà ông đã in hơn 50 đầu sách đủ các thể loại.
Ngoài những cuốn sách viết về văn hóa dân gian vùng tứ giác Long Xuyên, nhà thơ Trịnh Bửu Hoài từng có nhiều tiểu thuyết làm mưu làm gió trên thị trường. Những năm đất nước bắt đầu đổi mới, Trịnh Bửu Hoài nghĩ ngay đến một dòng sách trữ tình đáp ứng nhu cầu của độc giả đương thời. Năm 1987, Trịnh Bửu Hoài viết tiểu thuyết “Tình yêu đâu phải là trò chơi”. Khởi điểm in ba ngàn bản, bán hết vèo ở An Giang. Đầu nậu sách ở Cần Thơ đặt hàng in tiếp 20 ngàn bản, cũng bán hết vèo. Đầu nậu sách ở Sài Gòn ngửi được mùi lợi nhuận, liền ôm một cục tiền xuống tận nhà Trịnh Bửu Hoài xin in thêm 50 ngàn bản. Tổng thu nhập chắc cũng nặng túi nhỉ? Trịnh Bửu Hoài cười khì khì: “Vợ chồng nghèo tụi tui muốn hoa mắt khi có nhiều tiền cỡ đó. Tụi tui nửa tin nửa ngờ, hay là người ta đưa cho mình… tiền giả? Đêm nằm không ngủ được, nửa khuya hai vợ chồng trở dậy, thắp ngọn đèn dầu ngồi đếm lại tiền và ngồi soi lại tiền. Cũng không yên tâm, sáng sớm tui đạp xe chở vợ ra ngân hàng để xem có đổi được… vàng không! Bỗng dưng cầm được tám cây vàng, tụi tui lâng lâng như đi trên mây. Vợ chồng bàn bạc và nhất trí mua luôn một chiếc honda, khỏi phải còng lưng đạp xe cực nhọc nữa!”.

Nhờ văn chương, Trịnh Bửu Hoài trở thành một trong những viên chức có xe máy sớm nhất ở Châu Đốc. Khổ, thớt tanh tao thì ắt có ruồi đậu đến. Thấy cuốn “Tình yêu đâu phải là trò chơi” của Trịnh Bửu Hoài bán đắt chạy như tôm tươi, một kẻ đã nhái theo viết cuốn “Tình yêu đâu phải là trò đùa” ký tên Trịnh Vũ Hoài. Bị phỗng tay trên thành quả sáng tạo, Trịnh Bửu Hoài đâm đơn đi kiện. Cuối cùng, Cục xuất bản ra lệnh thu hồi cuốn “Tình yêu đâu phải là trò đùa” của Trịnh Vũ Hoài.

Qua cơn lận đận, Trịnh Bửu Hoài trở thành tiểu thuyết gia được các đầu nậu săn đón nồng nhiệt. Thậm chí, quan sát vợ chồng Trịnh Bửu Hoài đi chung một chiếc honda, đầu nậu sách đã chạy một chiếc xe máy khác đến nhà Trịnh Bửu Hoài và để lại… xem như ứng trước nhuận bút. Thế nhưng, Trịnh Bửu Hoài vẫn có nguyên tắc nghề nghiệp của ông, kiên quyết không viết bừa viết ẩu. Mỗi năm Trịnh Bửu Hoài chỉ nhận đơn đặt hàng viết ba tiểu thuyết. Trung bình mỗi cuốn, Trịnh Bửu Hoài kiếm được khoảng 5 cây vàng, do đó kinh tế gia đình ông cải thiện đáng kể.

Sau 10 năm viết tiểu thuyết, với hơn 30 cuốn được in và đều tái bản, năm 1997 Trịnh Bửu Hoài tuyên bố giã từ thể loại này để quay lại làm thơ. Và hôm nay, người nhiều sách nhất miền Tây đã 63 tuổi, vẫn hồn nhiên mỗi ngày theo đuổi chữ nghĩa với đau đáu nhân sinh “không còn ai bên máy chữ gọi thơ về”.

                                                  Châu Đốc – Sài Gòn, 7-2015
                                                            L.T.N

Nguồn: Lê Thiếu Nhơn
Read more…

NHÀ THƠ BÙI ĐỨC ÁNH: NGƯỜI SAY THƠ! - Tạp bút Phú Ngọc

14:28 |

Nhà thơ Bùi Đức Ánh

Cái tuổi quá lục tuần, thường người ta ngơi nghỉ. Riêng thi sĩ Bùi Đức Ánh thì lại khác. Ông “say” thơ và viết rất khỏe! Vậy nên chỉ trong vòng chưa đầy 4 năm, Bùi Đức Ánh đã cho ra mắt đến 4 đầu sách…
Nhà thơ Bùi Đức Ánh sinh 1949 tại xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, tốt nghiệp trường Đại học Tài chính Kế toán năm 1979. Trước năm 1975, ông từng dạy học tại trường Trung học Hưng Đạo Sài Gòn, sau đó về dạy tại các trường Trung học Hùng Vương, Bồ Đề, Kim Thông tỉnh Quảng Ngãi. Sau năm 1975, ông công tác tại Sở thuế TP.HCM. Sau ngày nghỉ hưu, ông tập trung cho công việc sáng tác. Tuổi tuy khá cao nhưng nhà thơ Bùi Đức Ánh vẫn còn rất say đắm với văn chương, anh viết khỏe và đều đặn trình làng những tác phẩm mới của mình. Thơ văn của anh có sức hấp dẫn và mang đến cho người đọc những điều đáng suy ngẫm.

Mới đây, thi sĩ Bùi Đức Ánh đã trình làng tập thơ thứ 3 mang tên “Đo chiều dài mùa đông”. Một cái tên nghe rất gợi và lãng mạn. “Mùa đông dài bao nhiêu”? – 3 tháng ư? Với Bùi Đức Ánh, mùa đông có thể rất ngắn, chỉ: “Một cơn mưa/ Một trận gió/ Hay một nỗi nhớ thầm?”… Trong những khắc khoải nhớ về người mình yêu: “Anh không thể nào đoán được ngày xa em/ Cái rét lại đến cồn cào như thế/ Anh mặc thêm áo ấm/ Vẫn thấy lạnh trong từng niềm bâng quơ”… Nhưng mùa đông cũng có thể rất dài, dài vô tận, không thể đong đếm: “Anh ngồi lại căn phòng vắng em/ Đo chiều dài mùa đông bằng mong ngóng…”. Đọc những câu thơ, ta nhận ra với thi sĩ Bùi Đức Ánh, sự xa cách người mình yêu như nỗi cô đơn nghìn trùng, như sự xa xót, cồn cào bất tận vậy.
“Đo chiều dài mùa đông bằng… mong ngóng” – một thước đo chỉ có người thi sĩ dùng. Tình tứ, chất chứa và đẹp mê hoặc…
Giọng thi sĩ Bùi Đức Ánh trẻ trung thế, mãnh liệt thế, lửa yêu bập bùng, hừng hực đến thế, tưởng đâu người còn trẻ, tóc còn xanh. Hóa ra lại khác, thi sĩ… già rồi! 66 tuổi còn gì! Và khi cầm trên tay đến 3 tập thơ, 1 tập truyện ngắn của Bùi Đức Ánh tôi mới hiểu, ông đúng là “một gã say thơ”, một thi sĩ “tóc tuy đã bạc mà hồn mãi xanh”.
Nói Bùi Đức Ánh “say” thơ rất đúng. Ông yêu thơ, viết thơ từ cái thời còn mài đũng quần trên ghế nhà trường. Trên bục giảng, khi là ông giáo, Bùi Đức Ánh cũng làm thơ, đọc thơ, ngâm thơ cho học trò nghe. Giờ khi về hưu, tóc bạc, Bùi Đức Ánh vẫn ngày ngày, đêm đêm cày cuốc cùng những con chữ trên “cánh đồng thi ca” diễm lệ. Có “say”, có “xanh đời” nên Bùi Đức Ánh mới có thể mỗi năm ra một tập thơ: “Thong dong ký ức” – 2012, “Biển không em” – 2013, tập truyện ngắn “Người đàn bà bên bếp lửa” – 2014 và “Đo chiều dài mùa đông” – 2015. Sở dĩ người viết dẫn ra tập truyện ngắn là vì trong truyện, thi sĩ Bùi Đức Ánh cũng rất thường lồng ghép những câu thơ của mình vào. Đó là chưa kể, tháng 7 này, ông lại ra mắt tập tạp văn “Dưới ánh trăng ấm áp”. Đáng nể thật!
Và cũng có lẽ, do Bùi Đức Ánh quá say thơ nên nhiều khi đọc thơ ông, tôi có cảm giác Bùi Đức Ánh viết vội (hay do tôi khó tính chăng?!). Bởi trong nhiều bài thơ của Bùi Đức Ánh, tôi có cảm giác có rất nhiều từ lặp đi lặp lại, đọc nghe… quen quen! Hay đó là phong cách của ông? Để cảm xúc tuôn trào và ông cứ vậy nhả vào con chữ thật tự nhiên, dung dị, không cần phải chỉn chu, màu mè, hoa lá! Tôi sẽ không nói nhiều về điều này. Đơn giản, với một người yêu thơ, hết lòng với thơ như Bùi Đức Ánh thì rất đáng mừng, đáng trân trọng. Phải có một tâm hồn đẹp mới có thể viết ra những dòng tâm sự vốn đã vương mang từ thuở thiếu thời, mãi đến khi tóc đã bạc rồi mà mỗi khi nhắc lại lòng vẫn cứ rưng rưng.
Viết về bất kỳ đều gì cũng vậy, Bùi Đức Ánh hay viết bằng thơ, viết say sưa, viết miệt mài. Người ta bảo Bùi Đức Ánh say thơ là phải!

P.N
Read more…

19 TUỔI VÀ 4 TÁC PHẨM - Tạp bút Thảo Nguyễn

14:30 |
Cây bút trẻ Vĩnh Thông




Có bài viết được đăng báo từ năm lớp 8, đến năm lớp 11 Vĩnh Thông đã xuất bản tập thơ đầu tay. Từ đó đến nay anh bạn sinh viên khoa Văn hóa học trường ĐH KHXH&NV TP.HCM đã liên tiếp cho ra đời nhiều tác phẩm và được xem là một cây bút 9X đầy tiềm năng.
XUẤT BẢN SÁCH… TỪ NĂM LỚP 11
Vĩnh Thông bày tỏ: “Mình viết là để viết, để chia sẻ cảm xúc, trải lòng mình đến với những tâm hồn đồng điệu”. Bộc lộ năng khiếu văn chương từ bé, Vĩnh Thông say mê đọc nhiều tác phẩm văn thơ và bắt đầu tập tành sáng tác. Thoạt tiên là viết cho vui, để thử sức mình, không ngờ được bạn bè đón nhận rất nhiệt tình, từ đó anh bạn có thêm nhiều cảm hứng để tiếp tục con đường văn chương.
Đến nay, Vĩnh Thông đã có bốn tập sách được xuất bản, gồm hai tập thơ, một cuốn du khảo và một tập truyện ngắn: “Và quá khứ thấy ta” (thơ, năm 2012), “Trạng thái yêu” (thơ), “Trở về và chào nhau” (truyện ngắn), “An Giang núi rộng sông dài” (du lịch) đều cùng xuất bản năm 2015.
Tập thơ Và quá khứ thấy ta được xuất bản khi anh chàng chỉ mới 16 tuổi, đang học lớp 11 tại một trường THPT tại tỉnh An Giang. Nhiều người nhận xét văn thơ của Vĩnh Thông “già dặn trước tuổi”, và khi tiếp xúc với Vĩnh Thông ngoài đời, anh bạn cũng có vẻ khá nghiêm nghị và lạnh lùng. Tuy nhiên, nếu thân rồi, chàng ta mới bộc lộ hết cá tính: chơi hết mình, học hết sức và cũng “quậy” không hề thua kém ai.
ĐEM QUÊ HƯƠNG VÀO TÁC PHẨM
Sinh ra ở mảnh đất An Giang hiền hòa tươi đẹp, Vĩnh Thông luôn mơ ước sẽ được giới thiệu những cảnh đẹp của quê hương đến bạn bè ở các vùng miền khác. Và cuốn sách du lịch “An Giang núi rộng sông dài” ra đời.
Đây là thành quả của những năm tháng trung học, Vĩnh Thông đã rong ruổi khắp các xã, huyện… trong tỉnh để vừa viết vừa chụp ảnh. Anh bạn kể: “An Giang núi rộng sông dài được mình viết liên tục trong khoảng một tháng, tức là không viết khi có cảm hứng như những tác phẩm khác, mà viết như một công việc cụ thể với thời gian được bố trí rõ ràng. Khi mới bắt đầu cũng cảm thấy mình hơi mạo hiểm, vì không biết có viết được thành một quyển sách hoàn chỉnh không, nhưng trong quá trình thực hiện lại thấy thú vị, hấp dẫn”.
Không chỉ đơn giản là giới thiệu về những thắng cảnh, địa điểm đẹp ở An Giang, trong cuốn sách này anh bạn còn bổ sung những thông tin hữu ích như nguồn gốc của địa điểm, những thắng cảnh, đặc sản… gắn liền với các sự kiện, nhân vật để du khách khi đến thăm sẽ biết được tường tận về những danh thắng ấy. Tham vọng của Vĩnh Thông là viết những cuốn sách về du lịch để góp phần phổ biến loại hình du lịch gắn với tri thức đến với mọi người.
Chàng trai sinh năm 1996 này không chọn riêng một loại hình văn học cụ thể nào, mà “múa đủ món” như nhiều cây bút đàn anh nhận xét. Vĩnh Thông thử sức với cả truyện ngắn, tùy bút, thơ, biên khảo, du lịch… Lựa chọn ngành Văn hóa học của trường ĐH KHXH&NV, Vĩnh Thông đang mong muốn phát triển năng khiếu trời cho cũng như theo đuổi đam mê tìm hiểu về văn hóa, con người, địa phương không chỉ ở quê hương mình mà còn ở mọi miền Tổ quốc.
CON TRAI VIẾT VĂN SẼ ĐA SẦU, ĐA CẢM?
Tự nhận mình là một người khá khó tính trong việc sử dụng từ ngữ, thích gọt giũa câu cho chỉnh chu, cô đọng nên Vĩnh Thông đã đầu tư nghiêm túc cho từng tác phẩm. Việc viết văn thơ cũng không làm cho Vĩnh Thông trở nên ủy mị, sướt mướt đâu nhé! Anh chàng tỏ ra sâu sắc, tinh tế và trưởng thành hơn qua từng tập thơ được xuất bản.
Trong khi nhiều bạn trẻ chọn các ngành nghề “hot” như Kinh tế, Quản trị kinh doanh hay Công nghệ kỹ thuật thì Vĩnh Thông lại thích gắn mình với các con chữ. Anh bạn lý giải: “Các bạn bè cùng trang lứa thường xem văn chương như một công việc. Còn mình thì không như vậy. Văn chương hay nghệ thuật nói chung là sự rung động của tâm hồn. Những bạn thích công nghệ kỹ thuật chắc chắn không thể từ bỏ đời sống tinh thần, nên cũng nghe nhạc, xem phim, đọc truyện… Và những người viết lách như mình nếu thích thì vẫn có thể tìm hiểu về công nghệ kỹ thuật đó thôi”.
Những khi thấy mệt mỏi, không muốn viết lách, Vĩnh Thông lại xách máy ảnh lên và tìm đến những địa danh mình yêu thích. Viết để trải lòng, để chia sẻ nên anh bạn không hề gượng ép, “Khi không muốn viết nữa thì mình nghỉ, nhưng bất cứ lúc nào muốn viết lại vẫn có thể, không ai ép buộc hay cấm cản, không ai “đuổi việc” cả. Mệt thì dừng lại, dừng bao lâu cũng được, khi muốn đi tiếp thì đứng dậy và đi thôi!”, Vĩnh Thông bày tỏ.
Không chỉ viết sách, anh bạn 9X còn biết cách quảng bá, đưa tác phẩm của mình đến tay người đọc thông qua mạng xã hội, blog và các kênh thông tin được thiết kế khá bài bản. Vĩnh Thông cho biết giới thiệu tác phẩm chính là cách mình trân trọng và tự hào với thành quả của bản thân, bên cạnh đó, càng nhiều người biết sẽ càng có nhiều đóng góp giúp tác giả thêm hoàn thiện bản thân hơn.
Vĩnh Thông chia sẻ tâm sự với những bạn trẻ có đam mê viết lách nhưng phụ huynh của họ lại không muốn: “Những bạn trẻ thích sáng tác không nên khởi đầu từ ý nghĩ “muốn trở thành nhà văn”, mà viết là để trải lòng. Có niềm đam mê sáng tạo, bạn hãy tự tin thử sức mình, nhưng đừng quá đặt nặng như một công việc mang tính bắt buộc. Nếu cha mẹ thấy văn chương là lành mạnh, tao nhã, văn hóa hơn những trò chơi vô bổ khác, giúp chúng ta xây dựng tâm hồn, tình cảm và nhân cách tốt đẹp, thì chắc chắn sẽ không phản đối”.

T.N 




Read more…

DẤU CHÂN NGƯỢC GIÓ CỦA LÊ PHƯƠNG CHÂU - Bài của Nguyễn Lương Vỵ

14:30 |


Cuối tháng 7.2015, nhà thơ Lê Phương Châu đã cho ấn hành tiếp tập thơ thứ 8 của mình, "Dấu Chân Ngược Gió"với trên 50 bài thơ lắng đọng suy tưởng, giàu cảm xúc, trải nghiệm phong phú qua một hành trình Thơ đã gần nửa thế kỷ. Điều đáng trân trọng là mối tri tình, tri kỷ đối với Thơ của Lê Phương Châu như ngọn lửa thiêng bền bỉ bất tận, như tấm lòng của nhà thơ luôn khao khát hiến dâng cho cái Đẹp của Đời và Đạo, được kết tinh thành Thơ. Bởi một lẽ đơn giản: Chính Đạo pháp và Thơ đã cứu rỗi Lê Phương Châu có đầy đủ nghị lực, lòng tin yêu trước những ngọn gió đời đầy oan khiên, bi kịch mà bản thân mình đã phải nếm trải và thọ nhận. Trong sáng, kham nhẫn và cô độc, chính là những phẩm chất quí hiếm của hồn Thơ Lê Phương Châu. Những phẩm chất quí hiếm ấy, tôi tin, đang và sẽ mãi đồng hành với Lê Phương Châu trong suốt hành trình sáng tạo thi ca của mình, dẫu rằng, nhà thơ vẫn chọn cho mình cách sống ẩn dật và khiêm hạ:

... Đánh thức tôi. Dặm dài sông côi
Lững thững say gió chiều chơi vơi
Dấu chân dốc ngược - lời chưa ngỏ
Bỏ cuộc chào nhau - nửa ván đời...

(Dấu Chân Ngược Gió)

Tôi đọc chậm lại 2 câu: "Dấu chân dốc ngược - lời chưa ngỏ/ Bỏ cuộc chào nhau - nửa ván đời" để mong nghe được niềm u uẩn của nhà thơ. "Dấu chân dốc ngược" đầy bất trắc, "lời chưa ngỏ" là lời gì vậy? Ấy là lời vĩnh quyết xé lòng với mối tình thâm thiết nhất của đời mình, "Bỏ cuộc chào nhau - nửa ván đời". Tôi nghe như có tiếng nấc nghẹn trong câu thơ. Tiếng nấc đã bay đi và tan theo gió, chỉ còn lại:

Đêm khuất dấu tàng thân vô xứ
ngẩn ngơ đời người trên phiến đá phù vân
Vầng trăng non đọc rõ
nỗi cô đơn bên hàng lau thưa thớt lá
là tôi băng ngang
tìm lại dấu chân
bên hình hài điếc đặc
hôm nay...

(U Tịch Trăm Năm)

Để rồi trong tâm tưởng vẫn còn vang vọng tiếng hát tự tình, "vẫn trong trẻo khúc hương nhà" trong niềm hoài cảm dịu dàng sâu lắng:

... Tắt dần ngọn đuốc ba sinh
Buông tay nằm hát tự tình đêm qua
Vẫn trong trẻo khúc hương nhà
Chân chầm chậm rải sát na trùng phùng...

(Bờ Gió BayXa)

Đến buổi xế chiều của cuộc đời, nhà thơ càng thấu tỏ hơn lẽ tử sinh ảo hóa của cuộc đời:

... Chiều nay cuồn cuộn phù du
Bước chân truy đuổi thực hư bi hài
Sinh ly chuyện chẳng riêng ai
Mềm tay con nước hoa phai vườn nhà
Rưng rưng dòng cạn màu pha
Nhặt đêm bóng rụng - thì ra bóng mình

(Đi Về Tịch Mịch)

"đêm bóng rụng" cũng chính là "bóng mình" giữa cõi bờ tịch mịch, "bước chân truy đuổi thực hư bi hài" là một tứ thơ hay, được thấu cảm bởi sự rung động sâu lắng trong tâm thức của nhà thơ. Để rồi, khi tĩnh tâm quán chiếu về lẽ vô thường của vạn hữu, nhà thơ đã nghiệm ra:

... Đêm khởi sự vắt ngang vườn xoan cổ tự
Khuất lấp nhịp tim rồ dại
Trôi theo tràng hạt bồ đề
tịnh khẩu

Trang kinh tinh khiết thì thầm
tôi như trẻ sơ sinh đói bầu sữa mẹ
lặng lẽ rung chuông hiền triết
Rừng uyên nguyên chia đôi sợi tóc đổi màu

Sướt mướt trầm hương khẽ ru lời gió
Ghi lại ngàn sau
có một khởi đầu.

(Dòng Trôi Ký Ức)

"Dòng Trôi Ký Ức" đã hòa nhập vào "trang kinh tinh khiết thì thầm", rất đỗi hồn nhiên "tôi như trẻ sơ sinh đói bầu sữa mẹ" nhưng rất đỗi tự tại "lặng lẽ rung chuông hiền triết", để rồi Nhìn ra, Thấy ra "rừng uyên nguyên chia đôi sợi tóc đổi màu". Đọc đến đây, tôi chợt nhớ đến 4 câu thơ kỳ vĩ lạ lùng của thiền sư Tuệ Sỹ trong một bài thơ của ông:

... Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn...


(Trích trong bài thơ Không Đề - Tuệ Sỹ)

Chẳng biết tôi có khiên cưỡng lắm không, khi nghe ra một niềm tương ưng, rung cảm bất khả tư nghì? Thôi thì, hãy để Thơ hoan hỉ hòa âm nếu có túc duyên vậy!

"Dấu Chân Ngược Gió" thấm đẫm mối quan hoài về dòng chảy của Thời Gian. Mối quan hoài man mác nỗi sầu cố xứ, cố quận, cố hương nhưng không bi lụy mà đầy ắp lòng bi mẫn cho thế thái nhân tình:

Đưa thân cõng gió lạc mùa
Mù con bóng nổi gió lùa bến không
Tịnh tịnh âm - thác đổi dòng
Non xanh rệu rã ngó đông mịt mờ
Giật mình tỉnh giấc hoa mơ
Xốn xang hạt bụi mới bừa ngã xuôi
Tình ru mật đắng ngọt bùi
Đành thôi bến cũ ngậm ngùi trăng phai

(Trả Lại Thời Gian)

Rất nhạy cảm trong cách Nghe và Nhìn về sự trôi chảy của thời gian, của dòng Đời bất tuyệt:

... về xuôi mặc áo vở lòng
rượu khua bàn thạch hừng đông
ứng linh đất trời mở ngõ
sắc thanh một cõi hòa đồng!

(Giao Thừa)

Trái chín xuân nay tình rất ngọt
Điểm dừng - điểm đến - điểm phù hư
Có ai phong kín mùi hương tóc
Trêu nhánh cây già trên phố xưa...

(Nguyên Tiêu Nhớ Về)

Tập thơ tràn ngập Gió và Thời Gian, tràn ngập hồi tưởng và chiêm nghiệm với một tâm thái thanh tịnh, lắng đọng. Tôi hình dung và nhớ mãi đôi mắt sáng đầy nghị lực, gương mặt rất nhân hậu của nhà thơ với nụ cười, giọng nói hiền hòa, chơn chất khi đọc rất chậm, rất nhiều lần 2 khổ thơ sau đây:

không con đường - không chọn lựa
dòng sông trôi tình khúc xa xưa
liệu có ai bên cầu tre đứng ngắm
vi vút bay cánh nhạn hót theo mùa

nghiệp trần chưa phủi sạch
một sớm theo cánh gió bay ngang
ai có hiểu vì sao chiếc lá vàng
đêm tắt nến còn nghe thơm mùi đất!!!

(Thức Tỉnh Trăm Năm)

Để chợt hiểu ra, vì sao, nhà thơ - cư sĩ Lê Phương Châu, dù đã bước qua ngưỡng cửa thất thập, vẫn còn nuôi dưỡng được sức sáng tạo thơ sung mãn, nội lực thơ thâm trầm. Bởi một lẽ rất giản dị: Nhà thơ - cư sĩ Lê Phương Châu đã tri ngộ:

Giữa khuya đêm tỉnh thức
Nằm nghe tiếng công phu
Âm Lăng Nghiêm huyền hoặc
Quét khô đỉnh núi mù!!!

(Tỉnh Thức)

Kinh Lăng Nghiêm được xem là tâm ấn của chư Phật, là cốt tủy của Phật pháp.

"Dấu Chân Ngược Gió", đây cũng chính là một nỗ lực mới rất đáng trân trọng, gắn kết mật thiết với tâm nguyện chân thành và tối thượng nhất của nhà thơ giữa cuộc đời phù du, ảo hóa nầy:

lắng nghe trong chữ nghĩa
vô vàn ý thơ rơi
nhặt ba hồn chín vía
kết sợi thơm dâng đời

(4 câu thơ in ở trang đầu của tập thơ).

Chúc mừng nhà thơ đã sớm có túc duyên tri ngộ và tinh tấn hành trì Phật pháp trong từng hơi thở của mình, giúp cho hồn Thơ ngày càng thăng hoa, tỏa sáng.


Calif., Chớm Thu, 07.08.2015
N.L.V
Read more…

ĐƯỜNG ĐẾN VĂN CHƯƠNG - Bài của Bảo Ninh

06:21 |

Những người bạn cùng phố cùng trường với tôi thời học phổ thông, sau nhiều năm gặp lại, đều lấy làm lạ với cái sự giờ đây tôi làm nghề viết văn.  Sở dĩ thế là vì các bạn của tôi nhớ rằng hồi đang đi học ở tôi chẳng có một cái vẻ gì là tiềm năng đời văn chương như người ta vẫn thường nghiệm thấy trong thời niên thiếu của các nhà văn. Bản thân tôi tự ngẫm cũng thấy như vậy.

Tôi sinh năm 1952 ở vùng tự do Khu Tư, tới hòa bình 1954 theo cha mẹ ra Hà Nội. Ăn học tới hết phổ thông thì nhập ngũ. Cho nên tuổi học trò của tôi gần như là lọt gọn vào trong thời hòa bình mười năm giữa hai cuộc chiến.

Cái thời mười năm lưng chừng đó, ở miền Bắc, có thể xem là thời kì vàng son của công cuộc tập thể hóa, thời ai cũng như ai nấy, bình dị, đồng đều, chung hòa mức sống, thống nhất nghĩ ngợi. Một thời buổi ấm no vừa đủ và rất giàu niềm tin. Là như vậy, chí ít đối với lớp trẻ mới lớn, hoặc nói cho chính xác, đối với lớp trẻ thành phần “con nhà cán bộ hộ khẩu Hà Nội” mà tôi là một trong đó.

Nhờ sinh ra lớn lên trong một môi trường sống đại khái là thuận chiều như thế mà tôi có một tuổi thơ và một thời thanh thiếu niên có thể coi là êm ái so với bao người. Tuy nhiên, cũng bởi vì dễ chịu hơn người mà quãng đời ấy của tôi nó đơn giản và nhòa mờ, hầu như chẳng lưu lại được gì sắc nét trong kí ức.

Đời sống vật chất được đảm bảo bằng sự phân phối theo tiêu chuẩn, chỉ có học và chơi, không phải lo nghĩ gì, cho nên vô tư mà cũng là vị kỉ và vô tâm, chẳng thấy gì, chẳng biết gì, chẳng hiểu gì về cuộc sống có thật ở đời, hoặc là chỉ biết, chỉ hiểu một cách chung chung và ước lệ qua sự định hướng của sách vở. Chẳng hạn, nông thôn miền Bắc, với tôi đấy là những gì được trang trí trong các tác phẩm văn học thời đó viết về đề tài nông nghiệp mà chúng tôi được học ở trường. Chẳng biết con trâu nó thế nào nhưng thuộc nằm lòng rằng ai bảo chăn trâu là khổ. Phải tới khi chiến tranh bùng nổ, sơ tán về làng quê, nhất là khi vào bộ đội, từng trải hầu khắp mọi miền đất nước và sống chết bên nhau với anh em đồng đội hầu hết là nông dân mặc áo lính, tôi mới thấm thía ra rằng chăn trâu là khổ thật, rằng nông thôn và hợp tác xã không chỉ là như trong sách.

Cái sự học văn học trong nhà trường ở thời tôi, tôi nghĩ, nó xa cách với sự đời gần như là một trời một vực. Những năm cấp một cấp hai thì chẳng nhớ nữa, còn những năm cấp ba tôi nhớ điểm số môn văn của mình chẳng ra gì, thường chỉ là tàm tạm điểm 3 với lại 3 trừ (theo thang điểm 5).

Tuy nhiên, mặc dù không hứng khởi với môn văn, song nhờ môn học này mà tôi dần dà có được cái ham thú đọc sách văn học. Có lẽ ban đầu là do bắt buộc. Chẳng hạn khi học đến tác phẩmTắt đèn của nhà văn Ngô Tất Tố, vì trong sách giáo khoa (gọi là sách trích giảng văn học) chỉ có đôi ba trích đoạn nên thầy giáo khuyên học trò gắng tìm đọc trọn vẹn cuốn đó. Đọc hết Tắt đèn rồi, do thấy hay, tôi đọc sang Việc làng  Lều chõng. Với các nhà văn Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Bùi Hiển, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Đình Thi, Hồ Phương, v.v… cũng vậy, ban đầu là từ các trích đoạn phải học rồi do sự hướng dẫn của thầy giáo mà tôi đọc thêm khá nhiều tác phẩm của các tác giả ấy.
Dần dà đạt được tới niềm ham thích sách văn học, tôi đọc ra cả những tác phẩm tác giả không có trong chương trình học. Mà hồi đó để có thể đọc “vượt tầm” như vậy chẳng phải chuyện dễ. Số đầu sách và lượng sách văn học được in ra chỉ như nửa giọt nước so với biển cả sách báo văn chương thời nay. Tôi có điều kiện đọc được tương đối nhiều hơn các bạn cùng lớp là nhờ vào tủ sách của cha tôi.

Cha tôi, giáo sư Hoàng Tuệ, là nhà ngôn ngữ học và là giảng viên đại học, ông trữ rất nhiều sách, tủ sách của ông khá là đồ sộ. Đa phần là sách chuyên môn bằng chữ ngoại hoặc chữ Nôm, song cũng không ít sách văn học tiếng Việt, nửa là sách dịch, nửa là của các nhà văn Việt Nam đương thời. Cha tôi cho phép tôi đọc lần lượt hầu hết các tác phẩm văn học có trong tủ sách gia đình (ngoại trừ Tự Lực văn đoàn, Tiểu thuyết thứ bảy và các ông Nhân Văn, phải mãi về sau, khi từ mặt trận trở về tôi mới được cha tôi cho đụng đến).     

Giải ngũ, trở về sau chiến tranh, tôi gần được với cha tôi hơn hẳn hồi còn đi học. Cha con hay trò chuyện, thường là chỉ hai cha con với nhau. Những câu chuyện, những suy nghĩ và những nỗi niềm khó lòng nói ra kể ra với ai, tôi thổ lộ với cha, đặc biệt là “đề tài” chiến tranh và quân ngũ. 

Bởi vì cha tôi hồi kháng chiến chín năm là bộ đội Vệ quốc đoàn nên ông thấu hiểu những tâm sự về đời lính của tôi. Ông lắng nghe, trao đổi và bàn luận với tôi, con trai của ông, một cách nghiêm túc, chân tình và bình đẳng, đàn ông người lớn với nhau.

Tuy chưa khi nào nói ra lời khuyên tôi cầm bút viết văn, nhưng qua những lần cha con tâm tình như vậy, cha tôi đã hướng tôi vào con đường văn học, trước nhất là khiến tôi đủ tự tin và mạnh dạn để dám viết dòng đầu tiên của truyện ngắn đầu tiên.
 



Những năm hậu chiến bao cấp, khó khăn mọi bề, sách văn học cũng khan hiếm chẳng khác chi cơm áo, nhưng nhờ cha tôi mà tôi đọc được khá đầy đủ những tác phẩm tác giả có lẽ là không thể không đọc trong đời. Đa phần là văn học Việt Nam thời trước 1945 và văn học nước ngoài. Nhưng không chỉ những tác phẩm dịch và xuất bản ở miền Bắc, cả những tác phẩm hồi đó mới chỉ được dịch ở Sài Gòn từ trước 1975, cũng là nhờ cha tôi kiếm cho mà tôi có được để đọc. Ngay như Dostoevsky tôi cũng lần đầu được đọc là nhờ vào những ấn phẩm “chế độ cũ” của cha tôi.

Đặc biệt đáng nhớ với tôi là tiểu thuyết Cuộc đời và số phận, bản tiếng Pháp, của một nhà văn Xôviết tên là Grossman. Năm 1986 cha tôi qua Paris dự hội thảo, mua về. Vì cái năng lực ngoại ngữ suốt bao năm trời hoài công học mà chỉ zêro của tôi, cha tôi đã dành rất nhiều thời giờ và công sức dịch cho tôi nghe cái tuyệt tác rất dày ấy. Chọn nơi vắng người, hai cha con đi xe đạp ra vườn hoa Canh Nông, ngồi ghế đá, cha tôi đọc và dịch miệng ngay sang tiếng Việt cho tôi nghe từng trang. Cứ như thế, không biết là bao nhiêu buổi chiều của những tháng ngày ấy, hai cha con với nhau ngoài vườn hoa vắng lặng, tới trang cuối cùng.

Với tôi, cuốn Cuộc đời và số phận, dù nó không nổi tiếng và dù chỉ nghe cha dịch chứ không tự đọc được, thật sự là tác phẩm lay động tâm can, đến tận bây giờ.

Có vẻ như trái khoáy, song nếu không trải qua chiến tranh, không từng cầm súng, tôi sẽ không nghĩ tới chuyện một ngày nào đấy cầm bút viết văn. Nhưng chắc chẳng riêng tôi, tôi nghĩ nhiều nhà văn nhà thơ cùng lứa với tôi và cùng từng là bộ đội như Hoàng Nhuận Cầm, Trần Anh Thái, Nguyễn Việt Chiến, Phạm Ngọc Tiến... cũng vậy, là nhà văn bởi đã trải qua chiến tranh.

Chiến tranh không chỉ theo nghĩa là đời lính và trận mạc mà là thời đại chiến tranh, mấy chục năm trời cảnh ngộ chung của cả nước, số phận của muôn người.

Bởi vì đất nước lâm cảnh chiến tranh nên đám trẻ thị thành như tôi mới đi sơ tán về làng quê. Không biết nông thôn chẳng thể thành nhà văn, đến nay tôi vẫn tin như vậy. Và vì thế tôi ngạc nhiên khi thấy có những nhà văn nhà thơ cả đời chỉ quẩn quanh đời sống phố phường mà vẫn có thể viết được, thậm chí viết hay.

Bản thân tôi thì thực sự là nhờ một thời chạy giặc sơ tán về nông thôn và sau đó là nhờ đời bộ đội mà cụ thể là nhờ Mặt trận Tây Nguyên, nhờ Sư đoàn 10, nhờ trung đoàn, tiểu đoàn, nhờ đại đội của mình, mà viết được truyện, mà thành nhà văn.

Cuộc chiến trường thiên ba chục năm, 1945 - 1975, là cuộc chiến toàn dân toàn diện và toàn bộ đời người, nên hồi đó là anh lính đối trận hay là ông thầy giáo dạy học ở hậu phương, ngay cả là anh sinh viên du học ở Đông Âu thì cũng đều có thể coi là đã tham chiến, và đều có thể viết về thời đại chiến tranh với góc nhìn cách nghĩ của riêng mình. Bởi vậy, các nhà văn Việt Nam sinh ra lớn lên trong nửa sau thế kỉ XX, tùy vào kinh nghiệm, sự hiểu biết, sự thấu cảm có được do hoàn cảnh và số phận của bản thân mình trong thời kì chiến tranh, đã tạo dựng nên mảng đề tài chiến tranh với vô vàn tác phẩm, phong phú, đa dạng đa chiều và cố nhiên là riêng biệt, mỗi nhà văn mỗi khác. Ngay cả nếu như vốn cùng là lính, có thể là cả cùng đơn vị, thì mỗi nhà văn cũng vẫn có suy nghĩ riêng, tâm trạng riêng, cách nhìn riêng về chiến tranh và rồi sẽ viết về chiến tranh không giống nhau, thậm chí trái ngược nhau. Bởi vì, thế mới là văn chương. Mới là nhà văn. Mới là con người.

Trong chiến tranh, trừ phi là nhà văn nhà báo được cử vào chiến trường để viết văn viết báo, còn lính thường bộ đội chiến đấu chẳng ai nghĩ tới, có nghĩ tới cũng khó lòng mà viết lách văn chương chữ nghĩa gì nổi.  Chiến tranh chẳng phải trò đùa, chẳng phải ngày hội, thật sự là vậy.

Song, sau chiến tranh, còn sống, mà không hề nghĩ tới cái sự rằng rồi đây mình sẽ viết một cái gì đó về đồng đội, về trận mạc, về những thử thách đã qua thì lại là sự lạ.

Tại một trại viết văn do Quân đội mở hồi năm 1990, tướng quân Đặng Vũ Hiệp, nguyên Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên nói thế này, tôi nhớ đại ý: Ai đã từng là bộ đội trong chiến tranh thì đều có sẵn sàng ở trong con người mình một nhà văn, chỉ có điều, do những hoàn cảnh khác nhau của đời sống mỗi người trong thời bình, nên rốt cuộc người thì đã viết người thì không viết, hoặc chưa viết.

Tôi cùng đồng đội hành quân dọc Trường Sơn vào đến Mặt trận B3 đầu mùa mưa năm 1970. Đấy là thời kì “sau Mậu Thân”, những năm thoái trào nghiêm trọng của Quân Giải phóng. Chí ít là tại địa bàn Tây Nguyên. Hi sinh tổn thất khôn xiết kể và những người sống sót thì phải chịu đựng gian khổ đến cùng cực. Nhưng cũng chính do trải qua những năm nguy kịch đó mà tôi thấm thía hiểu được cái điều “không thể nào hiểu nổi” về sức mạnh tinh thần của bộ đội ta. Từ đáy cùng, tưởng chẳng còn nổi chút hơi tàn mà thở chứ đừng nói gượng lên chiến đấu, bộ đội Tây Nguyên đã dốc toàn lực bình sinh rũ bùn đen trỗi dậy làm nên Tổng công kích 1972, rồi Mùa xuân 1975, giáng đòn Buôn Ma Thuột, hành tiến đuổi địch dọc miền Trung, và làm mũi chủ công tốc chiến giải phóng Sài Gòn.

Sau ngày hòa bình, tôi rời Sài Gòn về lại Tây Nguyên, gần một năm làm công tác quy tập hài cốt anh em đồng đội. Chín tháng trời thực hiện cái nhiệm vụ bi thương ấy, tuy mới góp phần tìm kiếm và quy tập được một phần chưa đáng kể phần mộ của nhiều thế hệ bộ đội đã ngã xuống trên các ngả đường chiến tranh, vẫn đã khiến tôi trước ngày giải ngũ có “cơ hội hơn người” được nhìn vào tận lòng sâu đất thẳm của cuộc chiến, khơi lại và thấy lại một lần nữa hình hài và hình bóng của lớp lớp đồng đội đồng chí đã bỏ mình từ tận những ngày xa xưa đầu kháng chiến 1945 đến những giờ phút cuối cùng ngày 30 tháng Tư. Và không chỉ đồng đội, mà cả quân lính đối phương, không chỉ binh sĩ mà cả dân thường, cả phụ nữ, cả trẻ em, chúng tôi đã nhìn thấy họ nằm đó, hồn ẩn trong đất đá, trong lá cây, trong rừng, trong núi, bên bờ sông bờ suối, ven những lối mòn dọc ngang khắp thời loạn lạc.

Sáu năm quân ngũ không là mấy đối với tuổi tôi bây giờ 64, nhưng tôi viết văn chỉ bởi vì và chỉ bằng vào quãng đời sáu năm ấy.

Mặc dù không phải là một kẻ sống lạc thời trong cuộc sống thời bình bốn chục năm qua, cũng am tường thực trạng sự đời có lẽ chẳng kém ai, vậy nhưng ngoại trừ dăm ba bài báo, tôi chưa từng viết nổi một cái gì có tính văn chương mà lại chỉ thuần “cập nhật” sự đời hôm nay.

Tuy nhiên, mặc dù thường hay nói một cách thuận miệng là mình chỉ viết về “đề tài chiến tranh”, tôi thực sự quan niệm rằng chẳng có nhà văn nào đích thực là nhà văn lại “viết về chiến tranh”.

Hòa bình hay chiến tranh, đấy là thời gian và không gian sống rồi chết của những đời người. Nhà văn viết, suy ngẫm về đời người, số phận con người, mà chiến tranh hay hòa bình chỉ là ngoại cảnh. Ngay như tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình mặc dù tên như thế và mặc dù dày đặc những trang triết luận rất siêu hình về lịch sử, về chiến tranh, về hòa bình, nhưng về cơ bản và rốt cuộc thì đời người, số phận con người muôn vẻ mới là xác thịt và linh hồn của tác phẩm vĩ đại ấy. 

Theo tôi, những tác phẩm đúng nghĩa là tiểu thuyết chỉ có duy nhất một đề tài, ấy là “số phận con người”, và bất kể cách viết như thế nào, câu chuyện và nội dung của những tiểu thuyết ấy cũng chỉ là để thể hiện nội tâm và nỗi lòng của con người.

Song le, ngày nay, khi viết những tác phẩm mà trong đó có sự tái hiện khung cảnh chiến tranh, nhân vật bị đẩy lại vào không gian chiến hào, thì ngoài vấn đề viết như thế nào, nhà văn luôn phải tự đối diện với câu hỏi: Viết để làm gì? Tại sao? Viết, kể, khơi lại, dựng dậy những câu chuyện vừa cũ xưa lại vừa bi thảm như thế, để làm gì?

Khi còn đang học trường Viết văn Nguyễn Du, một lần trò chuyện với nhà văn Kim Lân, tôi được ông khuyên thế này, còn nhớ mãi: Anh là cựu chiến binh từng trực tiếp đánh trận vậy hãy dồn tâm sức viết về quãng đời đó, nhưng phải viết sao cho hay, và cần phải nhớ, viết về chiến tranh tức là viết về hòa bình, về tình yêu thương, lòng nhân ái, đức khoan dung...

Hòa bình, tình yêu, lòng nhân ái, sự khoan dung... Đấy là những phẩm chất có tính biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam, và được thể hiện rõ nhất trong những năm chiến tranh gian khổ.

Có một cuộc tranh luận văn học cuối những năm 30 thế kỉ trước khiến tôi vẫn thường nghĩ tới, mặc dù thật ra cũng không hiểu được kĩ lưỡng ngọn ngành. Đấy là cuộc bút chiến giữa Hoài Thanh - Hải Triều, giữa “nghệ thuật vị nghệ thuật” với “nghệ thuật vị nhân sinh”.

Tất nhiên cũng hiểu rằng nổ ra cuộc bút chiến ấy trước nhất là do những xung đối chính trị của thời kì đó, song tôi vẫn cứ ngạc nhiên, bởi về mặt văn chương thì tôi thấy tranh luận vậy có vẻ quá khiên cưỡng. Hơn thế, sự khiên cưỡng ấy tôi cho là còn tiếp tục đến tận ngày hôm nay trong suy nghĩ của không ít nhà văn và độc giả.

Một tác phẩm văn học không thể nào vị nghệ thuật nếu không vị nhân sinh, và ngược lại. Quan niệm đó của tôi, đến với tôi từ một lần kinh nghiệm trong quân ngũ.

Kể từ cuối năm 1973, khi tuyến vận tải Trường Sơn trở nên thông thoáng dễ dàng hơn thì ngoài đạn gạo dồi dào, bộ đội B3 còn được tiếp tế sách, cả sách văn học. Khi đó tôi được chính trị viên giao nhiệm vụ làm “thủ thư đại đội”, nghĩa là ngoài ba lô và khẩu súng tôi còn phải nhận thêm một ba lô sách. Rất khổ, vì nặng không thua gì cái bàn đế súng cối. Mà lẽ ra thì không nặng thế, vì lẽ ra là anh em trong đơn vị sẽ mượn đọc và sẽ làm vơi đi cái tủ sách di động trên lưng tôi. Nhưng chỉ mấy tờ tạp chí Văn nghệ Quân đội là lính tráng chịu đọc, còn hơn chục cuốn tiểu thuyết dày ự nặng trịch thì vẫn nguyên đấy chẳng ai đụng. Bấy giờ đang trú quân ở hậu cứ nên không phải là không có thì giờ đọc, và hầu hết anh em trong đơn vị trình độ văn hóa cấp ba, thậm chí có cả sinh viên, lại cả sinh viên văn khoa nữa. Mà các tiểu thuyết ấy thì đều có nội dung tuyên truyền cổ vũ tinh thần chiến đấu của chính chúng tôi, anh bộ đội. Vậy nhưng anh bộ đội chẳng ngó ngàng. Được xem là thức ăn tinh thần của chiến sĩ, song chiến sĩ không ai đọc, thì thức ăn nỗi gì. Tôi nghĩ vậy.

Tuy nhiên, tôi nhớ, đầu năm 1975, trước chiến dịch Buôn Ma Thuột, chúng tôi nhận được loạt sách của Nhà xuất bản Văn học gửi tặng, trong đó có cuốn Bút kí người đi săn của Turgenev. Văn học nước ngoài, thế kỉ XIX, chẳng liên quan gì tới trận mạc đánh đấm, có thể nói là rất xa lạ với thực cảnh đời lính, ấy vậy mà lạ thay lính tráng đại đội tôi chuyền tay nhau đọc. Thật ra, chẳng có gì là lạ. Sách phải hay thì mới có độc giả, dù là độc giả giáo sư hay độc giả binh nhì.

Cái cách chọn sách để đọc của độc giả bộ đội ở đơn vị tôi đã tạo nên trong tôi ngay từ hồi ấy đến tận bây giờ một quan niệm rất đơn giản rằng, đã là tác phẩm văn học thì phải hay, bởi nếu không thế thì cái sự viết lách của nhà văn sẽ vừa vô nghĩa và vô ích vừa rất nực cười. 
 
B.N

Read more…